Gia phả‎ > ‎

Cụ Nguyễn Đức Huân

Tiểu sử

Cụ Nguyễn Đức Huân (tên gọi thân mật khi còn trẻ là Xước)

  • Sinh năm 1900 (Canh Tý - Niên hiệu Thành Thái năm thứ 12).
  • Mất ngày 16 tháng 8 năm 1965, an táng ở nghĩa trang Bất Bạt thành phố Hà Nội.
  • Ngày giỗ: 20 tháng 7 (Ất Tỵ).


Sự nghiệp 

Trước cách mạng tháng 8/1945, cụ tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội (pedagogie superieur) thời Pháp.

Ra trường được bổ nhiệm làm giáo thụ ở huyện Thuỷ Nguyên Hải Phòng.

Sau làm giáo sư (chuyên dạy địa lý và lịch sử) ở trường trung học Đỗ Hữu Vị, Hà Nội. Thời Pháp thuộc trường  Đỗ Hữu Vị gọi là Trường Hàng Than vì nằm ở phố Hàng Than. Đỗ Hữu Vị có hai trường là:trường tiểu học Đỗ Hữu Vị ở phố hàng Bún còn gọi là Trường Trúc Bạch và trung học Đỗ Hữu Vị.

Sau ông lên dạy học ở Trường trung học Lạng Sơn (college LANG SON)

Sau tháng 8/1945 ông dạy ở trường Bình Chuẩn, Hải Phòng. Trường này chính là trường BONNAL (thời Pháp) sau gọi là trường Ngô Quyền. Tên gọi Bình Chuẩn chỉ tồn tại từ 1946-1947.

Trong kháng chiến chống Pháp (1947-1954) Ông dạy ở trường Lê Quý Đôn - Thái Bình(1948-1950) và Trường Bắc Sơn - Lạng Sơn (1951-1958), sau về làm Trưởng Ty Giáo dục (nay gọi là Giám đốc Sở giáo dục) tỉnh Lạng Sơn (1952-1958).

Từ 1958-1962 làm Trưởng phòng bình dân học vụ Sở giáo dục thành phố Hà Nội đến lúc nghỉ hưu (1963).

Ông được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Ba.

Năm 1942 ông được triều đình Huế sắc phong phẩm hàm “Hàn Lâm Thị Độc”.

 

Gia đình

Ông lấy bà chính thất là Đỗ Thị Cung người họ Đỗ làng Nguyệt Mại, Vụ Bản, Nam Định.

Bà mất năm…………..thọ…………..tuổi…………

An táng tại…………………………………………..

Ngày giỗ…………………………………………….

Bà sinh được 1 người con gái và 3 người con giai.

  • Nguyễn Thị Quỳnh (tên lúc nhỏ là Sửu)
  • Nguyễn Trọng Tuấn (tên lúc nhỏ là Nguyễn Xuân Hy)
  • Nguyễn Trọng Bình
  • Nguyễn Xuân Diệu (mất năm 1943) do bị tắc ruột (giun chui ống mật).

 

Thứ thất là bà Nguyễn Thị Ngọc Dung. Bà mất năm 1936. Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung là con út cụ Lục Đồng. (Lục là chức vụ.  Lục sự ngày nay còn gọi là chánh văn phòng của cơ quan hành chính một huyện). Quê cụ ở làng Trà Phương huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

Bà là học sinh của cụ Nguyễn Đức Huân trong thời gian cụ dạy học ở huyện Thuỷ Nguyên.

Bà sinh được 2 người con giai và 3 người con gái là:

  • Nguyễn Trọng Chinh (mất từ lúc còn nhỏ)
  • Nguyễn Quang Chiêu (mất lúc còn nhỏ)
  • Nguyễn Thị Thanh Vân
  • Nguyễn Thị Minh Ngọc
  • Nguyễn Thị Kim Chi

 

Các con cháu

1. Bà Nguyễn Thị Quỳnh

Ngày sinh……………………….

Chỗ ở hiện tại Quận Tây Hồ, Hà Nội.

Trước 8/1945: Làm nhân viên ở Yokohama Bank (Hải Phòng). Sau tháng 8/1945 bà làm tại Cán bộ Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

 

2. Ông Nguyễn Trọng Tuấn

Ông Nguyễn Trọng Tuấn sinh năm 1930. Trước cách mạng tháng 8/1945 ông tên là Nguyễn Xuân Hy, sau này khi ở trong Vệ Quốc Quân (kháng chiến chống Pháp) ông đổi tên là Nguyễn Trọng Tuấn.

Trước cách mạng tháng 8/1945 ông học ở các trường:

  • Tiểu học (Jean Dupuis) còn gọi là trường Máy Nước ở phố Phan Chu Chinh, Hải Phòng hiện nay.
  • Trung học (1942-1943) trường Đỗ Hữu Vị, Hà Nội (college Đỗ Hưu vị).
  • Trung học Lạng Sơn (college Lạng Sơn)
  • Trường Bình Chuẩn, Hải Phòng (trước gọi là trường Bonnal)

Năm 1947 ông là bộ đội Vệ Quốc Quân bị thương trong trận đánh đồn nhà thờ Trình Xuyên, Huyện Vụ Bản, Nam Định.

Từ 1947-1955 ở trong Quân đội nhân dân Việt Nam sau chuyển ngành  là cán bộ hoá nghiệm ở nhà máy xay Hải Phòng

Nghỉ hưu………………………………

Ông được tặng thưởng:……………………………..

Ông lấy bà Nguyễn Thi Đào (chính thất)

Bà Nguyễn Thị Đào sinh năm 1932 (Nhâm thân) quê ở huyện Thuỵ Anh, Tỉnh Thái Bình.

Trước cách mạng tháng 8/1945 bà học đến hết bậc tiểu học (lớp nhất). Năm 1950 thoát ly tham gia kháng chiến chống Pháp.

Năm 1957 làm công nhân nhà máy xay Hải Phòng.

Bà được khen thưởng Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng 2 và Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.

Nghỉ hưu ở số nhà 239 đường Bạch Đằng Hải Phòng.

Bà kết hôn với ông Nguyễn Trọng Tuấn năm 1954 ở Lạng Sơn  và sinh đươc 3 người con giai và 1 người con gái như sau:

Các người con và cháu ông Tuấn:

1-Nguyễn Việt Tú sinh năm 1955 là kỹ sư điện cơ(1970)

Chỗ ở hiện tại 17/240 phố Tô Hiệu Hải Phòng.

Ông Tú lấy bà Vũ Thị Huệ sinh được 1 người con giai là Nguyễn Tiến Tùng (1985). Sau đó hai người ly hôn. Hiện nay bà Huệ và cháu Tiến Tùng làm ăn sinh sống ở nước Nga.

Ông Tú lấy bà thứ hai là Kim Oanh, sinh được :

-Nguyễn Thị Hồng Anh (1991)

-Nguyễn Thị Hà Anh (1998)

Hiện nay ở cùng với bố

 

2-Nguyễn Việt Tiến sinh năm 1956 là giáo sư tiến sỹ về Pháp ngữ giảng dạy ở trường ĐH Sư phạm Ngoại Ngữ Hà Nội.

Chỗ ở hiện tại: 155 Đặng Tiến Đông quận Đống Đa Hà Nội.

Ông Nguyễn Việt Tiến lấy vợ là Nguyễn Thị Anh Thư (sinh năm 1956) hiện là Giám đốc Thư viện của Trường ĐH Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội.

Ông Nguyễn Việt Tiến có 2 người con gái là:

- Nguyễn Việt Anh (sinh năm 1980) là giáo viên Pháp ngữ tại trường sư phạm ngoại ngữ. Năm 2007 bảo vệ luận án tiến sỹ Pháp ngữ ở nước Bỉ. Chồng của Việt Anh là Trần Nhật Quang làm việc ở Sở bưu điện Hà Nội.

- Nguyễn Hoài Minh (sinh năm 1988), là sinh viên (2007) năm thứ 2 của Đại học Quốc gia Hà Nội.

 

3-Nguyễn Minh Châu (tên lúc nhỏ là Tiệp) sinh năm 1960. Là bác sỹ y khoa (tốt nghiệp ở Nga năm 1990)

Hiện nay là giám đốc công ty xuất nhập khẩu lao động ở tỉnh Thái Bình.

Vợ là Ngô Thị Tuấn Khanh sinh năm 1965 hiện là thư ký cho chồng.

Địa chỉ hiện tại F208-D1 khu tập thể hồ Việt Xô-Bạch Đằng-Hà Nội

Điện thoại: 04 9717166

Sinh được hai con là :

-Nguyễn Việt Linh sinh năm 1991

-Nguyễn Thị Trà My sinh năm 1993

 

4-Nguyễn Thị Dịu Hiền sinh năm 1962

Cử nhân Anh ngữ-Đại học sư phạm Hà Nội

Hiện là giáo viên trường cấp 3 Hồng Bàng Hải Phòng.

Chồng là Vũ Văn Cang sinh năm 1954

Quê quán: Xã Tràng Cát-Huyện Hải An-Hải Phòng.

Cử nhân kinh tế. Hiện là phó giám đốc công ty vật tư công nghiệp thực phẩm thành phố Hải Phòng.

Có 2 người con là :
-Vũ Tiến Đạt sinh năm 1990

-Vũ Thị Diệu Ly sinh năm 1995


6. Ông Nguyễn Trọng Bình

Ông Nguyễn Trọng Bình  sinh ngày 08 – 05 – 1937 tại Hải Phòng. Ngay từ khi mới 14 tuổi (1951), ông đã được cử đi đào tạo tại Nam Ninh, Trung Quốc. Năm 1959-1962, ông học đại học ở Minsk, CH Bê-la-rút thuộc Liên Xô (cũ) chuyên ngành Vật Lý. Khi về nước ông được cử làm Phó chủ nhiệm khoa Vật Lý của ĐH Sư phạm Việt Bắc. Từ năm 1972 ông công tác tại trường Đại học Tại chức Hải phòng và giữ chức vụ cao nhất là Hiệu trưởng. Năm 1997, ông được Nhà nước phong danh hiệu Nhà giáo ưu tú do đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục của đất nước. Ông nghỉ hưu năm 1997. Hiện nay ông sinh sống tại quận Long Biên, Hà Nội. Trong quá trình công tác, ông đã nhận được rất nhiều thành tích như Huân chương Lao động, 4 bằng khen của Chính phủ, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh...

Ông Bình lấy bà Nguyễn Thị Chinh, là giáo viên. Hai ông bà có ba người con:

  • Nguyễn Hải Hà, hiện là Giám đốc một công ty chuyên Xuất khẩu đồ gỗ
  • Nguyễn Anh Thư, hiện đang sinh sống tại Hà Nội
  • Nguyễn Trọng Chiến, hiện đang học Thạc sĩ ở Australia
Xem thêm thông tin về ông Nguyễn Trọng Bình tại đây.


4. Bà Nguyễn Thị Thanh Vân

Bà Nguyễn Thị Thanh Vân lấy ông Nguyễn Văn Bích năm 1958, khi hai ông bà cùng công tác tại Lạng Sơn. Ông Bích công tác tại Bộ ngoại giao và đã làm Đại sứ của Việt Nam tại nhiều nước trên thế giới. Hai ông bà có hai người con:

  • Nguyễn Ngọc Sơn, công tác tại Bộ ngoại giao, hiện là Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền của nước CHXHCN Việt Nam tại Thụy Sĩ.
  • Nguyễn Tú Lan
Xem thêm thông tin về Bà Nguyễn Thị Thanh Vân tại đây.


5. Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc

Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc sinh ngày 5 tháng 1 năm 1934.

Lúc còn nhỏ đi học ở Hải Phòng, học đến đệ nhị phổ thông trung học(tương đương lớp 8 hệ giáo dục phổ thông 12 năm)

Sau bà vừa công tác vừa học thêm đến hết năm thứ 4 khoa kinh tế trường đaị học tại chức Hải Phòng. Là cử nhân kinh tế nhưng không thi tốt nghiệp.

Bà hoạt động trong kháng chiến chống Pháp từ năm 1950 và đã trải qua những việc như sau:

-Cán bộ bưu điện Quảng Yên(1950)-ở Mai Xiu huyện Sơn Đông Tỉnh Quảng Yên.

-Cán bộ văn thư trường thiếu nhi Việt Nam tại Quế Lâm-Trung Quốc(1952-1957)

-Cán bộ văn thư của văn phòng thành ủy Hải Phòng và trường đảng Tô Hiệu-Hải Phòng(1958-1962)

-Cán bộ văn thư sở giao thông công chính Hải Phòng(1962-1978)

-Cán bộ ty bảo đảm hàng hải Hải Phòng(1978-1980) rồi nghỉ hưu.

Nhà nước cộng hòa xã hôi chủ nhĩa Việt Nam tặng thưởng bà:

-Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng 2

-Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất

 

Chồng bà Minh Ngọc là ông Vũ Văn Thu (con trưởng) nhà ở phố Bát Đàn-Hà Nội. Sinh năm 1926-mất tháng 8/1990 (ngày giỗ 20.tháng6) An Táng tại nghĩa trang Gốc Găng-Hải Phòng.

Trước các mạng tháng 8/1945 ông đỗ tú tài- sau này ông tốt nghiệp trường đại học chính trị Nguyễn Ái Quốc.

Năm 1948 ông là thường vụ tỉnh đoàn thanh niên tỉnh Lạng Sơn

Năm 1957 về tiếp quản thành phố Hải Phòng là thường vụ tỉnh đoàn thanh niên Hải Phòng.

Từ 1957 đến khi nghỉ hưu 1986 ông lần lượt làm hiệu trưởng các trường cấp 3 Ngô Quyền và Thái Phiên là các trường cấp 3 nổi tiếng thuộc thành phố Hải Phòng

Ông được nhà nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng:

- Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng nhất

- Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất

- Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng

 

Các con cháu bà Minh Ngọc:

Bà Ngọc có 2 người con gái và 1 người con giai

1-Vũ Thị Phương Lan sinh ngày 13 tháng 11 năm 1958

Tốt nghiệp trường cao đẳng Sư phạm Kiến An-Hải Phòng (1986)- sau làm giáo viên trường cấp 1 Quang Trung Hải Phòng

Chồng là Đỗ Vương Trung sinh năm 1958 là họa sỹ

Hai vợ chồng sinh được 1 cháu là Đỗ Toàn(1988)

 

2-Vũ Thị Thanh Hương sinh tháng 5/1960

Tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội. (1987). Là giáo viên Vật lý của trường cấp 3 Thái Phiên-Hải Phòng

Chồng Thanh Hương là Tiêu Công Thúy sinh năm 1960

Tôt nghiệp Đại Học An Ninh năm 1987. Hiện nay là thượng tá công an-công tác tại Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng.

Hai người có 1 con giai và 1 con gái:

-Tiêu Vũ Minh Hằng (1985) hiện đang học tại đại học kinh tế tài chính.

Chồng là Kiên (1977) đỗ cử nhân kinh tế trường đại học kinh tế tài chính. Hiện là giám đốc tài chính công ty đại lý tầu biển Hải Phòng.

-Tiêu Vũ Đại Dương (1987) hiện là sinh viên đại học năm thứ 2

 

3-Vũ Minh Hải (18/12/1962) là kỹ sư máy cơ khí

Vợ là Nguyễn Thị Hồng Lũy (1974)

Hai vợ chồng có 2 con là:

-Vũ Thị Linh (1997)

-Vũ Quang Huy (1999)

 

Tham khảo

Comments