Ông Nguyễn Xuân Chúc


Tiểu sử tóm tắt

Ông Nguyễn Xuân Chúc là con trai thứ của cụ Nguyễn Xuân Nhiên, ông sinh ngày 30/09/1932 tại Hải Phòng, tốt nghiệp Kĩ sư cầu đường - Đại học Giao thông – Hà Nội. Thời gian công tác ông là Kĩ sư trưởng Sở Giao thông Công chính Hải Phòng, nghỉ hưu từ 1992. Hiện ở tại 101 Quang Trung – TP. Hải Phòng.

Ông lấy bà Hà Thị Phượng (sinh 1938), mất năm 1983. Được 4 người con:

  • Con gái: Nguyễn Thị Thái Hà (1956). Chồng là Hoàng Điềm. Có một con trai là Đặng Đức Hiếu.
  • Con trai: Nguyễn Thái Phi (1958). Vợ là Phạm Thị Hải Hà. Có một con trai Nguyễn Quang Anh.
  • Con trai: Nguyễn Xuân Thắng (sinh 1960), mất từ nhỏ.
  • Con gái: Nguyễn Thị Phương Hạnh (1969), mất 1983.

Vợ sau của ông Chúc là bà Nguyễn Thị Ánh Nhiếp, được một người con:

  • Con gái: Nguyễn Thị Ánh Trang (1986), hiện là sinh viên Khoa Vật lý Hạt nhân, ĐH Khoa học tự nhiên Hà Nội.

 


Một số truyện hồi ký 

Làm đường phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ

Năm 1953-1954 Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm hùng mạnh nhất của Pháp ở chiến trường Đông Dương. Về địa lý, Điện Biên Phủ nằm ở miền tận cùng Tây Bắc của Việt Nam nên đều cách rất xa căn cứ hậu cần của Pháp cũng như của ta. Căn cứ hậu cần của Pháp là đồng bằng Bắc Bộ (Hà Nội-Hải Phòng) còn căn cứ  hậu cần của ta là Việt Bắc và Thanh Nghệ Tĩnh. Bởi vậy tiếp vận cho chiến trường là điều rất khó khăn cho cả ta và Pháp. Pháp phải lập một cầu hàng không nối liền Hà Nội, Hải Phòng với Điện Biên, còn ta thì làm một đường bộ từ Yên Bái (ven sông Hồng) đến ngã ba Cò Nòi (vượt sông Đà) nối liền với quốc lộ 6 từ Hòa Bình lên để tiếp vận cho chiến dịch. Cả hai bên đều ra sức ngăn chặn cản phá con đường tiếp vận của đối phương. Bằng hỏa lực pháo binh và pháo cao xạ ta khống chế sân bay Mường Thanh, còn địch thì bằng bom phá và các loại bom nổ chậm, bom bi, bom bươm bướm cắt phá đường bộ mà điểm tập trung nhất là ngã ba Cò Nòi. Có thể nói rằng giao thông là một mặt trận, bên nào chiến thắng ở mặt trận này thì chiến thắng toàn cục.

Như lời đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói khi tổng kết “không có đường 13 thì không có chiến thắng Điện Biên Phủ”

Nhân kỷ niệm 45 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/2004) tôi ghi lại những ký ức của bản thân về sự kiện này.

Nguyễn Xuân Chúc

Cuối năm 1952, tôi công tác ở Nha giao thông thuộc Bộ Giao thông Vận tải, lúc đó đóng ở ATK (an toàn khu), một khu rừng ở chân đèo Khế, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Vào một buổi sáng mùa đông năm đó, đồng chí Bùi Văn Các (lúc đó là Giám đốc Nha giao thông) nói với tôi cùng với đồng chí Trần Thiện Đoan (sau này là Phó hiệu trưởng trường Đại học Giao Thông) bàn giao công việc đang làm và đến gặp đồng chí Vũ Đức Thận (sau này là Thứ trưởng Bộ Xây dựng). Ngay chiều hôm đó, đồng chí Thận phổ biến cho chúng tôi: “Đoàn chúng ta được giao một nhiệm vụ bí mật và nặng nề”. Tối nay, chúng ta sẽ lên đường. Khi đến nơi tập kết, sẽ giao nhiệm vụ cụ thể”.

Tối hôm đó rời ATK trên một chiếc xe tải đi suốt đêm, ai nấy đều mệt mỏi nhưng phấn khởi, háo hức đón nhiệm vụ mới. Đến sáng, xe dừng lại ở Km7 đường Tuyên Quang - Hà Giang. Chúng tôi nghỉ lại để đến tối tiếp tục cuộc hành trình. Riêng tôi, được phân công đến Trường Cao đẳng Giao thông Công chính ở Km 11 mượn dụng cụ, tài liệu để phục vụ nhiệm vụ sắp tới.

Đến đêm thứ hai, chúng tôi đến thị xã Yên Bái. Đến đây, đoàn được bổ sung một số cán bộ kỹ thuật là Nguyễn Thanh Giục, Huỳnh Đăng Thê và Nguyễn Văn Dương. Chúng tôi nghỉ lại Yên Bái một ngày để mua sắm những vận dụng cần thiết. Ngày hôm sau, vượt bến Âu Lâu đi vào Ba Khe. Từ đây, chúng tôi chỉ đi bộ và đi ban ngày. Điểm tập kết cuối cùng để nhận nhiệm vụ là Thượng Bằng La (huyện Văn Chấn, Yên Bái).

Đồng chí Phan Mỹ, Chánh văn phòng Chủ tịch phủ, sau này là Thứ trưởng Bộ Thủy lợi, là người trực tiếp giao nhiệm vụ. Cụ thể là: Trung ương giao nhiệm vụ mở một tuyến đường ô tô vào Tây Bắc, gọi là đường 13 nối từ Âu Lâu (Yên Bái) trên sông Hồng đến Tạ Khoa (Sơn La) trên sông Đà. Đoạn từ Âu Lâu đến Ba Khe đã có đường ô tô, chỉ cần cải tạo. Còn đoạn Ba Khe đến Tạ Khoa là tuyến đường mở mới hoàn toàn. Đoạn tiếp theo từ Tạ Khoa đến Cò Nòi sẽ giao nhiệm vụ sau. Ban chỉ huy công trường 13 do đồng chí Phan Mỹ làm trưởng ban, đồng chí Vũ Đức Thận làm phó ban. Dưới là ban chỉ huy công trường hai tỉnh Yên Bái và Sơn La. Ban chỉ huy công trường Yên Bái có đồng chí Nguyễn Trung (tỉnh ủy viên Yên Bái) là trưởng ban, đồng chí Lê Sỹ Liêm (trưởng ty giao thông Yên Bái) là phó ban, phụ trách đoạn đường từ Âu Lâu đến chân đèo Lũng Lô. Riêng đèo Lũng Lô có một ban chỉ huy riêng gọi là công trường 7 do đồng chí Trần Thiện Đoan là trưởng ban.

Ban chỉ huy công trường tỉnh Sơn La do đồng chí Nguyễn Văn Lợi (tỉnh ủy viên Sơn La) làm trưởng ban, đồng chí Phạm Toản làm phó ban, phụ trách từ chân đèo Lũng Lô phía Sơn La (ngã ba Mường Cơi) đến Tạ Khoa. Tất cả cùng chung một nhiệm vụ là mở một con đường dài 143Km để xe kéo pháo có thể đi được và phải hoàn thành trong 10 tháng. Lực lượng thi công là dân công hỏa tuyến do các tỉnh tổ chức đưa lên. Trong một tháng, công trường phải chuẩn bị mọi mặt: khảo sát, cắm tuyến đường, lập kế hoạch, bố trí để đón dân công...

Tôi được phân công ở Yên Bái nhưng lại xung phong vào Sơn La vì Sơn La đối với tôi có nhiều sức hút kì lạ.

...Tây Bắc núi nghiêng trong lòng mây trắng

Nhà thấp thoáng mấy tầng đồi

Dòng Đà buông trôi hiền từ

Gieo lửa hoa những đêm trăng...

...Phù Yên rộn tiếng hát, chờ người anh dũng trở về. 

“Anh về Tây Bắc thăm nhà em dựng lên đón nắng. 

Thăm vườn mai nhà em bốc trắng đầu mùa...”

Tôi rất thích một bài thơ của Trần Lê Văn:

Không đi lòng hóa phụ lòng

Ra đi theo chồng thì nhớ quê cha

Ngày xưa ai ngược Sơn La

Đường thủy, đường bộ mất ba mươi ngày

Sườn non trắng xóa mây bay

Ngựa đi hai ngày không tới đỉnh non

Sớm chiều cái vượn ru con

Đêm đêm “khảm khắc”nỉ non canh dài

Hoa bướm vào quãng Giêng, hai

Nở khắp núi ngoài, nở khắp rừng trong

Những cô gái chưa chồng

Hội “tung còn” đến cho lòng nao nao...

Từ Thượng Bằng La vào Phù Yên (Sơn La) phải vượt qua đoạn cuối dãy núi Hoàng Liên Sơn. Có hai con đường vào là đèo Lũng Lô (đến Mường Cơi) và đèo Đá Xô (đến bản Thẩy). Đoạn đèo Lũng Lô do anh Trần Thiện Đoan khảo sát. Đoàn chúng tôi (Sơn La) sẽ đi theo đường đèo Đá Xô để lấy tài liệu tham khảo, so sánh.

Đoàn vào Sơn La gồm đồng chí Phạm Toản, Nguyễn Thanh Giục, Huỳnh Đăng Thê, Nguyễn Văn Dương và tôi. Trước khi chúng tôi lên đường, đồng chí Phan Mỹ nói: “Phù Yên là huyện mới giải phóng, dân đói còn có người chết đói. Lẽ ra phải chuẩn bị đủ gạo ăn đường nhưng vì kho công trường hết gạo mà nhiệm vụ lại khẩn cấp, đoàn cứ lên đường, ban chỉ huy sẽ cho dân công gánh gạo đuổi theo tiếp tế sau”.

Chúng tôi lên đường, luồn rừng vượt dốc, theo bản đồ quân sự tìm hướng đi. Qua một ngày làm việc mà chưa có gạo tiếp tế. Chúng tôi nhịn đói đi tiếp. Sau đó chúng tôi mới chợt nghĩ ra: mình đi luồn rừng, leo dốc, tìm hướng đường ôtô, trong khi đó, dân công gánh gạo lại đi theo đường mòn, không gặp nhau là phải.

Thế là sau ba ngày đói cơm, chỉ chia nhau it đường, ít lạc mang theo và củ rừng, vừa đi vừa làm việc, chúng tôi đến bản Thẩy thuộc địa phận Sơn La. Đoàn chúng tôi được tỉnh ủy Sơn La đón về Mường Cơi. Tại đây, ban chỉ huy công trường Sơn La được thành lập.

Đồng chí Nguyễn Văn Lợi (tỉnh ủy viên Sơn La), trưởng ban chỉ huy công trường báo cáo: Tỉnh ủy Sơn La nhận lệnh của Trung ương mở đường, đã huy động dân công ra làm nhưng không có một cán bộ kỹ thuật nào. Dân công làm việc rất hăng nhưng không biết xe ôtô có đi được không? Có những đoạn dốc rất cao, vách đá dựng đứng như đoạn suối Cao, Phiêng Ban, thì chẳng biết giải quyết thế nào.

Từ đây chúng tôi chia nhau thành từng nhóm, phụ trách từng phần đường. Tôi và đồng chí Nguyễn Thanh Giục phụ trách từ ngã ba Mường Cơi đến suối Xập dài 45Km. Lực lượng thi công là dân công Phù Yên. Ban chỉ huy công trường được bổ sung thêm đồng chí Đinh Văn Linh, huyện ủy viên Phù Yên (sau này là chủ tịch huyện Phù Yên). Sau khi dân công Phù Yên hết hạn, công trường lại tiếp nhận dân công huyện Thanh Sơn (Phú Thọ). Sau hai đợt dân công (mỗi đợt kéo dài 3 tháng), với bao khó khăn, vất vả, chúng tôi đã hoàn thành tuyến đường.

Có biết bao kỉ niệm vui buồn trong thời gian này, nhưng có một cảm xúc mà suốt đời tôi không thể nào quên được. Sau một ngày vất vả đi nghiên cứu cắm tuyến đường qua đèo Nhọt, tôi ngả lưng trên vạt cỏ xanh ở cửa rừng Nhọt. Trời chiều xuân se lạnh, sương mù lãng đãng. Mây trắng xà thấp, lởn vởn trên những chòm cây. Cảnh vật tĩnh lặng, êm đềm quá, khiến tôi bâng khuâng nhớ quê hương với những cánh đồng sau vụ đông thơm mùi rơm mới... Rồi mấy cô gái Thái xuất hiện, vừa đi vừa ríu rít chuyện trò. Tôi ngỏ lời muốn nghỉ qua đêm. Các cô vui vẻ mời tôi về bản Nhọt. Lúc đó, vì tránh máy bay, bản sơ tán vào rừng, cạnh dòng suối. Tối hôm đó, lần đầu tiên trong đời tôi được ăn hoa ban đồ xôi...

Sau khi con đường hoàn thành, ôtô đã đến Tạ Khoa, tôi trở về ban chỉ huy công trường tỉnh lúc đó đóng ở bản Mòn, chân đèo Phiêng Ban, phụ trách phòng kỹ thuật. Anh Lợi trở về tỉnh ủy, anh Nguyễn Chí Hùy (sau này là cục trưởng cục đường bộ, bộ Giao thông vận tải) nguyên bí thư huyện ủy Phù Yên ra thay anh Lợi. Anh Phạm Toản được Bộ điều về Công trường 1 mở đường Thái Nguyên - Lạng Sơn.

Cuối năm 1953, tôi cùng anh Dương Bạch Liên (sau này là Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải) cùng với 3 tiểu đoàn công binh do anh Nguyễn Văn Đoan làm trung đoàn trưởng, mở thông đường từ Tạ Khoa qua đèo Chẹn đến ngã ba Cò Nòi, thông đường 13 và đường 41 thẳng vào Điện Biên Phủ.

Trong chiến dịch Điện Biên, tôi phụ trách hai đội chủ lực cầu đường, ba đại đội dân công hỏa tuyến và một tiểu đoàn pháo cao xạ, đảm bảo giao thông ở ngã ba Cò Nòi - một trọng điểm bắn phá của máy bay Pháp, vì đây là cửa ngõ của hậu phương lớn: Thanh Hóa, Nghệ An lên và từ Việt Bắc sang Điện Biên.

Hòa Bình lập lại, anh Nguyễn Chí Hùy mời tôi về cộng tác với anh để tổ chức thành lập Ty giao thông Sơn La. Sau đó, tôi về Sở giao thông khu tự trị Tây Bắc rồi trở lại Sơn La sau khi tái lập tỉnh. Đến năm 1964. Giặc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Bộ giao thông điều động tôi vào đảm bảo giao thông ở khu Bốn(Thanh Nghệ Tĩnh và Quảng Bình). Đền năm 1975, tôi chuyển về Sở giao thông vận tải Hải Phòng...

Mười một năm công tác ở Sơn La, ngoài công trình mở đường 13, Tôi còn tham gia mở nhiều tuyến đường như: Mai Sơn-Sông Mã, Cò Nòi-Nà Đít, Mộc Châu-Pa Háng, Vạn Yễn-Xồm Lồm, đường mỏ than hang Mon và xây dựng nhiều cầu trên đường 13 và 41 như: cầu suối Sập, suối Cao, Tà Vài, Chiềng Đông và các cầu Sơn La, Suối Muội và Chiềng Pấc. Ngoài ra còn một công việc có ý nghĩa nữa đối với tôi là tổ chức Trường kỹ thuật sơ cấp giao thông khu tự trị Tây Bắc và trực tiếp đào tạo hai khóa học được gần một trăm cán bộ kỹ thuật về cầu đường bộ là người dân tộc, góp phần vào việc phát triển giao thông của khu tự trị và tỉnh Sơn La.

Gần bốn mươi năm xa Sơn La chưa có dịp trở lại, nhưng trái tim, tâm hồn tôi vân luôn hướng về mảnh đất thân yêu, nơi tôi đã cống hiến cả một thời trai trẻ. Nhớ về Sơn La, nhớ về một thời sôi nổi của tuổi trẻ. Tôi không khỏi bâng khuâng và mong ngày trở lại.

 

 

Mười năm xây dựng cầu Rào, cầu Niệm, cầu An Dương ở Hải Phòng

Trong mười năm (1974-1984) thành phố Hải Phòng đã xây dựng ba cầu bê tông ứng suất trước lắp hàng trong phạm vi nội thành là: Cầu Rào (đường 14), Cầu Niệm (quốc lộ 10) và cầu An Dương (quốc lộ 5). Chất lượng công trình và tốc độ thi công ngày càng được nâng cao, hình dáng công trình và kết cấu ngày càng cải tiến để đẹp hơn, tốc độ xe chạy cao hơn và êm thuận hơn.

Cầu An Dương là công trình xây dựng giao thông của thành phố lần đầu tiên được thực hiện phương châm trung ương và địa phương cùng làm. Công trình đã được hội đồng nghiệm thu bàn giao công trình cấp thành phố xác nhận: “Chất lượng tốt-đẹp-rút ngắn thời gian bàn giao công trình 120 ngày”.

Tốc độ thi công bình quân của cầu An Dương là 11,1 mét/1 tháng, đạt tốc độ bình quân về xây dựng cầu có quy mô và kết cấu tương tự ở một số nước có nền công nghiệp phát triển, Thí dụ: tốc độ bình quân ở Pháp là 11,92mét/1 tháng. Cầu Subekada là cầu có khai độ lớn nhất Bắc Mỹ tốc độ bình quân là 12,19 mét/1 tháng.

Ô Chúc dẫn Đại tướng Võ Nguyên Giáp (lúc đó là Phó thủ tướng) thăm công trình cầu An Dương, 1983

Do tính chất quan trọng của công trình nên cầu An Dương đã được hầu hết các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đến thăm.

  • Đồng chí Lê Duẩn, Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng.
  • Đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ chính trị - Chủ tịch Hội đồng Nhà Nước.
  • Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Phó chủ tịch Hội đồng nhà nước - Chủ tịch Quốc hội.
  • Đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ chính trị - Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
  • Đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương.
  • Đồng chí Tố Hữu, Ủy viên Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương đảng.
  • Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Ban chấp hành trung ương đảng, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
  • Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ chính trị - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
  • Đại tướng Chu Huy Mân, Ủy viên Bộ chính trị - Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Đồng chí Đỗ Mười, ủy viên bộ chính trị ban chấp hành trung ương đảng-phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng.
  • Đồng chí Đổng Sỹ Nguyên, uỷ viên bộ chính trị phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng, nguyên bộ trưởng bộ giao thông vận tải.
  • Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, ủy viên dự khuyết bộ chính trị, bộ trưởng bộ ngoại giao.
  • Đồng chí Lê Thanh Nghị, ủy viên ban chấp hành trung ương đảng, phó chủ tịch hội đồng nhà nước.
  • Đồng chí Trần Quỳnh, ủy viên ban chấp hành trung ương đảng, phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng.
  • Đồng chí Trần Phương, ủy viên ban chấp hành trung ương đảng.
  • Đồng chí Lê Văn Lượng, ủy viên ban chấp hành trung ương đảng, bí thư thành ủy Hà Nội.
  • Đồng chí Nguyễn Đức Thuận, ủy viên ban chấp hành trung ương đảng, chủ tịch tổng công đoàn Việt Nam.
  • Đồng chí Đỗ Quốc Sam, chủ nhiệm ủy ban xây dựng cơ bản nhà nước.
  • Kiến  trúc sư Phạm Ngọc Tới, tổng bí thư hội người Việt Nam yêu nước ở Pháp.
  • một số các đồng chí thứ trưởng các bộ: Giao thông vận tải, Tài chính, Ủy ban xây dựng cơ bản nhà nước, Ủy ban kế hoạch nhà nước.

Các đoàn khách trong nước và nước ngoài đến thăm công trình gồm có: Văn phòng hội đồng bộ trưởng - Ủy ban xây dựng cơ bản nhà nước - Ủy ban kế hoạch nhà nước - Bộ tài chính - Ngân hàng đầu tư và xây dựng trung ương.

Các sở giao thông vận tải trong cả nước, các xí nghiệp liên hiệp xây dựng giao thông vận tải trong nước, Binh đoàn 12 bộ quốc phòng, - đoàn chuyên gia Liên Xô tại cầu Thăng Long - đoàn cố vấn Liên Xô về ngân hàng và tiền tệ,  đoàn đại biểu bộ giao thông bưu điện Lào:  Đồng chí Chăn Phiu, phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng Căm Pu Chia. Đồng chí thiếu tướng tổng tham mưu trưởng công an Cu Ba..vv..

Các đại biểu đến thăm công trình đều khen ngợi công trình xây dựng nhanh, chất lượng tốt, hình dáng công trình đẹp.

Cầu Rào, Niệm và An Dương đều là cầu bê tông ứng suất trước có chiều dài nhịp 63 mét là nhịp cầu bê tông lớn nhất nước ta (tính đến năm 1985), thi công theo phương pháp lắp hạng, mối nối dán bằng keo ê-pô-xy, là phương pháp thi công tiên tiến lần đầu tiên được áp dụng ở nước ta.

Đồng chí Đồng Sỹ Nguyên, ủy viên bộ chính trị trung ương đảng, phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng, nguyên bộ trưởng bộ giao thông vận tải đã nhận xét là:

“Cầu An Dương là một công trình đồng bộ, được hoàn thành nhanh nhất trong các công trình giao thông của đất nước trong năm 1983-1984. Hoàn thành công trình đồng bộ, bàn giao đưa vào sử dụng trước thời gian tiến độ là thước đo để đánh giá cao nhất của người xây dựng. Đây là tiêu chuẩn duy nhất của hiệu quả kinh tế... (trích điện của bộ trưởng Đổng Sỹ  Nguyên nhânh dịp khánh thành công trình cầu An Dương)”.

Việc xây ba cầu ở Hải Phòng đã là một trong hai sự kiện quan trọng của việc đồng chí Tố Hữu thả thơ trong bài “Bốn cống, ba cầu, năm cửa ô”.

Lần đầu tiên Thành uỷ một thành phố lớn đã đứng ra tổ chức cuộc vận động toàn dân thi làm thơ! Một triệu rưỡi người dân toàn thành phố đã sôi nổi hưởng ứng trong suốt mấy tháng trời! Hầu như trong tất cả các hội nghị các ngành, các sở, các quận, huyện nào cũng có nội dung bàn cách thi thơ. Đi đâu, làm gì cũng thấy người ta bình luận về sáng tác thơ.

Kết quả là chỉ trong một thời gian ngắn, đã có tới hơn một vạn câu thơ của mấy nghìn tác giả gửi về dự thi.

Chuyện mơ ước về sự quan tâm của lãnh đạo với làng văn, làng báo Việt nam chăng? Xin thưa rằng không! Đó là một sự kiện hoàn toàn có thật, đã diễn ra tại Hải Phòng cách đây gần 20 năm

 

Nhà thư Tố Hữu “ra đề” cuộc thi

Đặng Vương Hưng (Bài đăng báo An ninh thế giới cuối tháng, số 27 tháng 11.2003)

Tháng 10-1984, tại Hội nghị Sơ kết công tác xây dựng huyện toàn quốc, nhà thơ Tố Hữu đã gặp đồng chí Bí thư Thành uỷ Hải Phòng, vui vẻ nói:

- Mình có một bài thơ mới làm để cổ vũ những thành tích và cố gắng của thành phố Hải Phòng. Nhưng bài thơ mới chỉ có 3 câu thôi, nội dung thế này:

Bốn cống, ba cầu, năm cửa ô!

Đào sông, lấn biển, dựng cơ đồ.

Làm ăn hai chữ à ra thế.

Sau khi ngân nga đọc, nhà thơ Tố Hữu nói tiếp:

- Thực ra đó là một bài thơ tứ tuyệt có tên là “Mừng Hải Phòng”, mình cố ý để trống và “thả” một câu. Các cậu về phát động toàn Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng làm tiếp câu thứ tư nhé!

Chỉ với ba câu thơ trên đã chứng tỏ nhà thơ Tố Hữu nắm rất vững tình hình của Hải Phòng hồi đó, không chỉ qua bản báo cáo của Thành uỷ. Bốn cống ở Hải Phòng vừa được xây dựng hồi ấy là: cống Thượng Đồng, cống Trung Trang, cống Rỗ và cống Cái Tắt. Ba cầu mới được hoàn thành: cầu Niệm, cầu Rào và cầu An Dương. Năm cửa ô: Trước đó, Hải Phòng mới có bốn cửa ô đi các hướng Hà Nội, Quảng Ninh, Đồ Sơn và Kiến An, mới thêm cửa ô phía tây nam (cầu An Dương). Những ngày ấy, còn đang thời kỳ bao cấp, kinh tế các địa phương nói chung còn gặp rất nhiều khó khăn, cần tháo gỡ và tìm ra một hướng làm ăn mới để thoát ra khỏi sự trì trệ. Những việc mà Hải Phòng làm được như xây cầu, cống, đào kênh, lấn biển... trở thành “điểm sáng” về làm ăn kinh tế và khí thế xây dựng CNXH được dư luận cả nước quan tâm. Hồi đó, đồng chí Tố Hữu không chỉ là một nhà thơ lớn của cách mạng, ông còn đang đảm nhiệm những trọng trách mà đất nước đặt trên vai: Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tương đương chức vụ Phó thủ tướng Chính phủ hiện nay).

Nhận được “đề thi” của nhà thơ Tố Hữu giao cho, đồng chí Bí thư Thành uỷ Hải Phòng rất phấn khởi. Về tới thành phố, ông cho gọi ngay Ban Tuyên giáo Thành uỷ đến để bàn gấp. Có người hiến kế: Việc này nên giao cho Báo Hải Phòng, vừa dễ phát động quần chúng, vừa có công cụ để tuyên truyền.

“Thơ hay nườm nượp” bay

Tổng biên tập Báo Hải Phòng hồi đó là ông Vũ Long, đã được Thành uỷ Hải Phòng giao nhiệm vụ là Cơ quan Thường trực “Cuộc vận động sáng tác câu thơ thứ tư, trong bài thơ của nhà thơ Tố Hữu”. Nhà báo Vũ Long giờ đã nghỉ hưu, nhưng đã nhớ rất chính xác công việc của mình cách đây gần 20 năm. Ông khẳng định rằng: Trong cuộc đời làm báo mấy chục năm, ông đã chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc phát động, cuộc thi, nhưng chưa thấy cuộc nào lại rầm rộ và lớn đến như thế. Mà kỳ lạ lại là thi... thả thơ!

Báo Hải Phòng đã phát động tuyên truyền liên tục trong nhiều số liền, viết cả xã luận hô hào các đảng viên và quần chúng cùng hưởng ứng cuộc thi sáng tác câu thơ thứ tư. Vậy là, suốt mấy tháng trời, hầu như cuộc họp nào của Thành uỷ, uỷ ban, của các sở, ban, ngành, quận, huyện; thậm chí cả phường, xã... người ta đều bàn luận về câu thơ thứ tư. Người Việt nam mình quả là một trong những dân tộc yêu thơ nhất thế giới! Ai ai cũng có thể làm thơ và sẵn sàng trở thành một nhà thơ. Mà không chỉ riêng ở Hải Phòng hưởng ứng, nhiều tác giả ở mãi Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh, Thái Bình... cũng gửi bài về dự thi.

Tính đến ngày 28-12-1984, Ban tổ chức đã nhận được 10.523 câu thơ của 3.250 tác giả thuộc đủ mọi thành phần và lứa tuổi. Trong đó, có hơn 3.400 câu thơ của 1.958 tác giả đã được giới thiệu trên báo. Báo Hải Phòng ra hằng ngày đã liên tục dành một diện tích “đất” trang trọng ở trang 1, ngay dưới “măng sét” để in thơ dự thi trong chuyên mục “Thơ hay nườm nượp bay về”. (Trong lịch sử báo chí nước ta, có lẽ khó lặp lại điều lãng mạn và ưu ái thơ ca đến thế!).

Theo quyết định của Thường vụ Thành uỷ Hải Phòng, một hội đồng tuyển chọn những câu thơ hay nhất đã được thành lập gồm: Đại diện Ban Tuyên giáo, Báo Hảí Phòng và Hội Văn nghệ Hải Phòng, các nhà thơ Nguyễn Viết Lãm và Trịnh Hoài Giang được mời làm giám khảo.

- Bước một, các thành viên đã tập trung làm việc liên tục, từng thành viên trong Hội đồng đều phải đọc toàn bộ bản thảo để cuối cùng chọn ra 293 câu khá nhất.

- Bước hai, trong số 293 câu khá, chọn được 42 câu dự kiến loại A, 40 câu dự kiến loại B và 47 câu dự kiến loại C.

- Bước thứ ba, trên cơ sở 129 câu thơ đó, chọn lấy 10 câu loại A 10 câu loại B và 10 câu loại C.

Trong 10 câu thơ được xếp loại A, câu đầu tiên có nội dung là: “Nghĩa Đảng, tình dân, ý Bác Hồ”. Người may mắn đứng đầu danh sách là tác giả có tên Bùi Văn Lê, ở địa chỉ số 6, Lương Văn Can, Hải Phòng.

Tác giả được xếp thứ 8, với câu thơ “Lái vững, buồm căng vượt sóng xô” là đồng chí Đống Ngạc. Ông cũng chính là trợ lý của đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn. Tác giả loại A được xếp cuối cùng là ông Trần Tháo, một nông dân ở xã Đông Khê, huyện An Hải, Hải Phòng với câu thơ “Bác dạy vì dân gắng sức lo”. Trừ những tác giả là cán bộ Nhà nước, có danh tính và địa chỉ rõ ràng, với những người còn lại, Ban tổ chức đều phải cẩn trọng cử người đi xác minh nhân thân của họ. Vì người ta lo xa: nếu một trong số họ có vinh dự được là “đồng tác giả” với nhà thơ Tố Hữu, thì lý lịch phải được đảm bảo và tư cách cũng phải “sạch sẽ”, không làm tổn hại đến uy tín của nhà thơ lớn.

Hội đồng tuyển chọn cũng đề nghị Báo Hải Phòng cho đăng trọn vẹn 10 lần bài thơ của nhà thơ Tố Hữu, có đủ câu thứ tư. Dự kiến, lễ trao thưởng sẽ được tiến hành long trọng cho các cá nhân và tập thể, ngay sau khi báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của nhà thơ Tố Hữu.

Bất ngờ lớn: đáp án ngoài đề thi!

Chiều ngày 29-12-1984, sau khi đọc biên bản kết quả làm việc và kiến nghị của Hội đồng tuyển chọn, đồng chí Bí thư Thành uỷ Hải Phòng đã cử đồng chí Phó bí thư Thành uỷ và Tổng biên tập Báo Hải Phòng về Hà Nội báo cáo kết quả cuộc vận động thi “thả” thơ và xin ý kiến của nhà thơ Tố Hữu về việc trao thưởng và công bố bài thơ tứ tuyệt mà đồng chí đã tặng Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng. Theo nhà báo Vũ Long kể lại: Hôm đó nhà thơ Tố Hữu rất vui. Ông đánh giá cao thành công của cuộc vận động và cho đó là một cách làm công tác tư tưởng thông minh, sáng tạo; vừa nhẹ nhàng, vừa ít tốn kém, mà lại gây được phấn chấn lòng người. Nhà thơ Tố Hữu bày tỏ sự cảm kích trước tấm lòng nhân dân Hải Phòng đã dành cho mình. Đọc 30 câu thơ đã được Hải Phòng tuyển chọn xong, nhà thơ Tố Hữu tươi cười và nói:

- Đây thật sự là những câu thơ tự đáy lòng người dân yêu quý đất nước, gắn bó với quê hương và có lòng tin mãnh liệt vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc câu thơ nào cũng hay, cũng xứng đáng... Nhưng bài thơ “Mừng Hải Phòng” của mình không chỉ có bốn câu đâu...

Cả Phó bí thư Thành uỷ Hải Phòng và Tổng biên tập Báo Hải Phòng đều nhìn nhau, không khỏi ngạc nhiên. Rồi nhà thơ Tố Hữu bất ngờ hỏi:

- “Thành Tô” có nghĩa là gì với Hải Phòng nhỉ?

Phó bí thư Thành uỷ Hải Phòng đưa mắt nhìn Tổng biên tập Báo Hải Phòng, ý bảo “Cậu giải thích đi”. Nhà báo Vũ Long vội đứng lên:

- Thưa, đấy không phải là tên chính thức của Hải Phòng, nhưng có một thời uy tín của đồng chí Tô Hiệu rất lớn ở Hải Phòng. Nhân dân đã tự đặt tên cho thành phố của mình là Thành Tô (thành phố của Tô Hiệu).

Nhà thơ Tố Hữu lắng nghe, gật gù, rồi bất ngờ tuyên bố:

- Thế thì hay lắm. Thực ra, bài thơ mình tặng cho Hải Phòng gồm 3 khổ, 12 câu cơ. Mình xin đọc trọn vẹn bài thơ này:

Bốn cống, ba cầu, năm cửa ô!

Đào kênh, lấn biển, dựng cơ đồ.

Làm ăn hai chữ à ra thế.

Chèo chống ngàn tay một tiếng hô...

 

Nhộn nhịp Sáu Kho vui bến cảng

Khang trang Tam Bạc rộn Thành Tô

Giá còn nữ tướng Lê Chân nhỉ

Ắt cũng khen con cháu Bác Hồ.

 

Triều dâng, sóng dậy, đời ca hát

Gió tự Đồ Sơn mát... Thủ đô

Tám nghề, Bảy chữ đừng tham nhé

Chín chắn mười mươi cũng chớ phô!

Nhà thơ Tố Hữu giải thích: Trong bài thơ của ông có đủ các số từ Một đến Mười, tượng trưng cho sự phát triển đầy đủ toàn diện và mạnh mẽ của Hải Phòng. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng riêng khổ thơ thứ ba, bốn câu cuối cùng, chỉ là “tặng thêm”, thì không được công bố rộng rãi. Nghĩa là khi cho in, chỉ được giới thiệu hai khổ với tám câu thơ chính thức (!?) Còn bốn câu phụ thì chỉ được nói thêm và giải thích ngoài lề. Vũ Long cứ băn khoăn mãi: “Tám nghề, Bảy chữ nghĩa là gì nhỉ? Hỏi nhà thơ Tố Hữu thì không tiện, nhưng không hỏi thì khi về Bí thư Thành uỷ yêu cầu giải thích, biết trả lời sao đây?”. May quá, đêm ấy khi giở Truyện Kiều ra đọc, đến câu thứ 1210 “Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề” thì Vũ Long đã “ngợ” ra được thâm ý của nhà thơ. Đó là những nghề, những chữ cấm kị, đáng xấu hổ; những người đứng đắn, tử tế đều cần phải tránh xa... Sau này, chính bốn câu cuối không được in công khai nói trên lại được người ta bình luận nhiều nhất, vì cho rằng đó là sự “nhắc nhỏ” của nhà thơ Tố Hữu với Hải Phòng. Phải chăng, nhà thơ đã tiên đoán” rất tài tình, thâm thuý, sâu sắc về sự phát triển của Đồ Sơn trong “cơ chế thị trường” ắt sẽ đụng chạm tới “Tám nghề, Bảy chữ”? Ông đã cảnh báo và khuyên răn ai đó đừng “tham lam” và chớ có “phô” quá, kẻo tự mình làm hại chính mình!.

Hải Phòng, tháng 11.2003

 

Múa rìu qua mắt thợ

Năm 1983, tôi đang chỉ huy xây dựng cầu An Dương. Một hôm, theo lịch làm việc tôi đến gặp đồng chí Đoàn Duy Thành lúc đó là bí thư thành ủy Hải Phòng để báo cáo tiến độ xây dựng cầu (sau này đồng chí Đoàn Duy Thành là phó thủ tướng chính phủ). Anh Thành bảo tôi: Hôm nay mình rỗi rãi, nên mời anh đi chơi cho thư giãn.

Từ phải sang: Ô Chúc, ô Đoàn Duy Thành (Bí thư Thành ủy Hải Phòng), Phó Thủ tướng Phạm Hùng 

trong chuyến thăm công trình thi công cầu An Dương, 1983

Khi lên xe, anh bảo tôi là: Tôi muốn mời anh đi thăm đền Phú Xá. Ông Từ giữ đền là bạn tù Côn Đảo với tôi trước đây, đã lâu không gặp nên nhân dịp này đến thăm bạn cũ.

Biết đền Phú Xá là nơi thờ Trần Hưng Đạo nên khi đi đường tôi kể cho anh Thành chuyện về một đôi câu đối mà tôi rất thích. Câu chuyện như sau:
Có một câu đối như sau:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục

Đằng giang tự cổ huyết do hồng

Vế trên là vế ra của sứ Tầu, nhắc lại sự tích cột đồng trụ của Mã Viện ý nói nước ta trước là thuộc địa của Trung Quốc.

Vế đối lại của sứ Việt Nam, ý nhắc lại sự kiện lịch sử trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo.

Sợ ông Thành không hiểu hết về chữ nghĩa nên tôi giải thích rất cặn kẽ. Tôi nói:

Anh biết không? Đôi câu đối này rất chỉnh về chữ nghĩa. Về chữ thì “chí kim” là đến nay thì đối lại là “tự cổ” như vậy là kim đối với cổ, vần bằng thì đối lại là vần trắc, đài dĩ “lục” thì đối lại là huyết do “hồng” lục là xanh đối lại thì hồng là đỏ. Xanh đối với đỏ, trắc đối với bằng. Thật là tuyệt vời.

Tuy vậy phần nghĩa đối còn anh hùng hơn. Sự tích đồng trụ đem đối lại là chiến thắng Bạch Đằng hai chiến công hiển hách của dân tộc ta.

Nghe tôi giải thích anh Thành cứ gật gù không nói gì.

Đến khi vào đền, thấy có nhiều đại tự và câu đối chữ Hán, anh Thành hỏi tôi: Cậu có đọc được không?

Tôi trả lời: vốn chữ Hán của tôi ít lắm. Trước đây mỗi kỳ nghỉ hè thì ông nội tôi lại dạy cho ít chữ nho gọi là để giữ gia phong. Tôi chỉ học vài quyển như: Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn, Minh đạo gia huấn. Đến nay nghĩa thì biết mặt chữ thì quên hết.

Tôi nói đùa là: đọc câu đối thì chỉ có thể như sau: trên thì ngất án bỏ đi, giữa thì chuột gặm còn dưới gì?..gì?..xuân.

Mọi người cười vui vẻ. Anh Thành liền đọc cho tôi các bức đại tự, các đôi câu đối từ gian ngoài vào gian trong và giảng giải chi tiết ý nghĩa, chứng tỏ anh là người uyên bác về nho học. Tôi phục lắm và nghĩ lại chuyện kể khi đi xe thấy là “múa rìu qua mắt thợ”.

Đến khi về tôi mới biết mục đích chuyến đi chơi của anh Thành là: Anh muốn hỏi ý kiến tôi về thiết kế tuyến đường bao phía nam thành phố mà anh định xây dựng. Theo ý anh thì tuyến đường nên đi theo hướng đền Phú Xá.

Tôi đã góp ý với anh là: Mục đích của tuyến đường là phát triển kinh tế. Vậy hướng đến phải là đảo Đình Vũ. Nên kết hợp với cảng Chùa Vẽ và vượt sông Cấm qua đập Đình Vũ. Như vậy phát huy được hiệu quả của đập Đình Vũ. Việc kết hợp với di tích lịch sử đến Phú Xá là nên làm nhưng không nên đi quá gần đền vì như vậy sẽ ảnh hưởng đến sự trang nghiêm của đền. Chỉ nên đi gần đền và sẽ mở một đường nhánh vào bãi đỗ xe cạnh đền. Những ý kiến này đều được anh Thành cho thực hiện.

Gần đây nhân đọc hồi ký của Đoàn Duy Thành tôi mới hiểu rõ về trình độ Hán văn của anh: Xin trích dẫn một đoạn trong hồi ký của anh để minh chứng như sau:

Tôi học chữ nho gần 4 năm, học miệt mài. Cha tôi dạy: “Học phải như thiết như tha, như trác như ma, như nang huỳnh, như ánh tuyết” (có nghĩa học phải như mài, như dũa, như cắt, như cưa sắt, không có đèn dùng ánh sáng đom đóm, ánh trăng, ánh tuyết mà làm đèn học). Tôi thức khuya dạy sớm, nằm quỳ viết, hệt các nho sinh, sĩ tử ngày xưa. Nhờ dùi mài kinh sử, chẳng bao lâu tôi đã học hết Tứ thư, sang Ngũ kinh. Đặc biệt Kinh thi và Kinh Xuân thu (dạy cách trị quốc của phong kiến Trung Quốc) tôi phải nhập tâm rất kỹ. Do nỗi ấm ức vì không có điều kiện theo học quốc ngữ tại trường nên tôi dồn hết khát khao vào việc đèn sách tại nhà. Bởi vậy sự tiến bộ của tôi khiến mọi người ngạc nhiên.

Nhưng cha tôi không mấy khi khen con trước mặt. Tôi chỉ nghe lỏm được một lần bác tôi, người cùng dạy dỗ tôi, nửa đùa nửa thật nói nhỏ với cha tôi:

- Tôi và chú đèn sách có dễ hơn hai chục năm, học qua các cụ Cử, cụ Tú, kể cả cụ Thủ khoa Huân... nhưng xem ra ta sắp hết chữ dạy thằng bé. Đúng thế. Tôi thực sự lấy làm lạ thằng bé này! (Cụ Thủ Khoa Huân người Nam Hà, trùng tên với cụ Thủ Khoa Huân ở Nam Bộ, cụ có thời ngồi dạy học ở nhà tôi).

Nghe vậy, cha tôi gạt đi. Người càng tỏ ra nghiêm khắc rèn cặp tôi hơn trước.

Tôi còn nhớ có lần sau khi học xong hai quyển thuộc bộ sách Mạnh Tử, bác và cha tôi bắt tập làm câu đối. Bác tôi ra vế:

“Sự Tề hồ? sự Sở hồ? Đằng Văn chi vấn thậm nan”

(thờ vua nước Tề hay thờ vua nước Sở, vua Đằng Văn Công hỏi rất khó trả lời).

Tôi đối lại:

“Vi Tướng dã! vi Quân dã! Thứ dân diệc do bình dị?”

(làm tướng, hay làm vua, người dân cũng coi là dễ)

Bác tôi khuyên son tất cả, lại khen niêm luật đủ. Nhưng bác chê tôi không trích được điển tích. Quan trọng nhất là khẩu khí tôi coi thường nhà vua, lời lẽ ấy ngày trước thi viết có thể bị chém đầu như bỡn. Tôi thấy ngại, xin thôi không tập làm câu đối nữa, chỉ tập viết, làm vài bài thơ hoặc bài phú ngắn đưa trình bác tôi xem cho vui.

Các bạn đồng học với tôi hàng ngày đọc thật to những sách Bắc sử, Minh tâm chính văn... (cách học ngày xưa bắt buộc phải gào toáng lên như vậy) Tôi có cái thú lắng nghe những tiếng ê a của họ rồi thuộc lúc nào không nhớ. Đối với tôi cũng là một trò chơi thôi. Ai ngờ đến nay đã hơn 60 năm, tôi vẫn còn thuộc lòng hàng trang những bài học cũ, nhất là những bài mang tính triết lý cao mà mình tâm đắc.

Tác phẩm 

Comments