Những người bạn của hiền khảo Nguyễn Xuân Nhiên

Nguyễn Xuân Chúc

Ngạn ngữ có câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Người Pháp có câu: “Hãy cho tôi biết bạn anh là ai? thì tôi  biết anh là người thế nào”.

Lúc bé tôi hỏi bố: tại sao bạn bố có người gọi là ông như: Ông tham Kiên; ông tham Phát; ông tham Vỹ; ông hộ Xương; ông cửu Đại; ông Tỵ  vv..... nhưng có người lại gọi là bác như: Bác tham Hiếu, bác phán Dục, bác phán Lan, bác phán Ấu vv.....

Người giảng giải cho tôi: Về bạn xã giao thì gọi là ông với chức tước và tên; còn bạn tâm giao thì gọi nhau là bác và thường thì không kèm theo chức tước. Như vậy là xem như anh em. Nhưng vì là bạn nên gọi Bác xưng tôi, còn nếu bác là ngôi thứ trong nhà thì xưng là em hoặc cháu.

Để hiểu rõ, người đọc cho tôi bài thơ Khóc Bạn của cụ Nguyễn Khuyến viếng cụ Dương Khuê như sau:

Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta

Ngẫm từ thủa đăng khoa ngày trước

Vẫn sớm hôm Tôi, Bác cùng nhau

......

 

Tôi xin viết về những người Bạn của hiền Khảo như sau:

 

Bác Tham Hiếu

Bác thuộc một dòng họ danh giá ở làng Đông Ngạc huyện Từ Liêm Hà Nội. Trước cách mạng tháng 8/1945 bác làm việc cùng với bố tôi ở sở bưu điện Hải Phòng. Sau cách mạng tháng 8/1945 bác tham gia kháng chiến là Phó giám đốc Sở Bưu điện Khu 3. Năm 1956 về tiếp quản Hải Phòng, bác làm giám đốc sở bưu điện Hải Phòng đến khi nghỉ hưu.

Bác có duy nhất một người con giai là anh Nguyễn Văn Đạo, học cùng lớp với anh tôi là Nguyễn Xuân Vinh. Sau này anh làm việc ở uỷ ban khoa học nhà nước (1970-1975).

Anh Đạo là người thông minh học giỏi và đạo đức tốt. Bố tôi thường nêu gương cho chúng tôi noi theo.

Bác Hiếu là một người vui tính được mọi người yêu quý. Khoảng năm 1941-1943 gần như tối nào bác cũng lại nhà tôi chơi. Mỗi lần bác đến, thì nhà lại vang tiếng cười vui.

Em Nguyễn Xuân Huy nay đã là tiến sỹ tin học của viện khoa học Việt Nam, lúc bé là một đứa trẻ kháu khỉnh bụ bẫm. Bác đặt cho tên là: “thằng đít vại” (mông đít như cái vại). Mỗi lần đến chơi bác đều gọi “đít vại đâu rồi?” Huy ta lại lẫm chẫm đến, bác ôm vào lòng.

Thời gian sau tiếp quản (1956-1960)Hải Phòng, kinh tế gia đình tôi vô cùng khó khăn. Cả nhà gồm 8 người mà chẳng có việc gì làm. Lúc về tiếp quản, bác đến nhà tôi và mặc dù không dư dật gì, bác cũng giúp mẹ tôi vốn liếng để làm ăn. Sau này đến 1972 chúng tôi mới góp nhặt đủ tiền để trả cho bác. Ân nghĩa này mãi mãi chúng tôi không thể nào quên.

 

Bác Phán Kình

Bác Phán Kình là bạn của bố tôi từ thời kỳ làm việc ở Yên Bái (1928 -1930). Đó là thời gian bố tôi bắt đầu đi làm. Gia đình tôi và bác Kình thuê nhà ở cạnh nhau và rất thân. Đặc biệt là cả hai nhà có nhiều điểm giống nhau như: Cả hai ông đều là thông phán; đều bắt đầu đi làm và đều có số nhân khẩu như nhau. Hai bác có một cô con gái đầu lòng là chị Tân và một người cháu giai ở giúp việc; Bố mẹ tôi thì có chị gái đầu là chị Bính và anh Yên là con cô tôi ở giúp việc. Do đó hai nhà bàn nhau là: mỗi nhà đi chợ nấu ăn một tháng. Từ đó tình bạn càng thắm thiết. Sau này lại phát hiện thêm là cùng họ Đỗ ở Nguyệt Mại, vì cụ tổ họ Đỗ - Nguyệt Mại có một cảnh sinh sống ở Vân Đồn. Đó là cảnh nhà bác Kình.

Sau khởi nghĩa Yên Bái của ông Nguyễn Thái Học, chính phủ Pháp sợ giơí công chức bị ảnh hưởng của Quốc dân đảng nên đổi công chức Yên Bái đi tỉnh khác. Bố tôi về Hải Phòng, Bác Kình về Nam Định. Từ đó hai nhà xa nhau.

Hai mươi năm sau (1950) trong kháng chiến chống Pháp, sau khi bố tôi bị địch sát hại ở Thái Bình gia đình hồi cư về Nam Định Bác Kình tìm đến thăm. Bác nhận đỡ đầu em Nguyễn Xuân Quang vì bằng tuổi với anh Đỗ Văn Lễ là con bác. Đến năm 1955 gia đình Bác di cư vào Sài Gòn, còn mẹ tôi và các em về Hải Phòng. Lại một lần 20 năm nữa hai nhà xa cách cho đến 1975 mới gặp lại.

Trong thời kỳ đất nước bị chia cắt hai miền Nam Bắc, năm 1959 nhà tôi lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất  nhận được bưu thiếp của chị Tân từ Sài Gòn gửi ra.

Từ khi thống nhất đất nước( 1975) vợ chồng em Quang đã nhiều lần vào Sài Gòn thăm gia đình Bác. Sau khi hai bác và chị Tân mất đi, em Quang đến chịu tang và lập ban thờ hàng năm cúng giỗ, giữ tròn đạo hiếu.

Ngày giỗ Bác Kình (giai): 10/03 (Nhâm Tý)

Ngày giỗ Bác Kình (gái): 14/10 (Quý Hợi)

Ngày giỗ Chị Tân: 21/04 (Ất sửu)

 

Bác Giáo Quỳ

Cũng như bác Phán Kình, bác Giáo Quỳ là bạn của bố tôi thời gian 1928 – 1930 ở Yên Bái. Sau năm 1930 bác về quê không dạy học nữa, nhà tôi về Hải phòng nên không còn liên lạc. Bốn mươi năm sau (1970) bác Quỳ về Hải Phòng tìm nhà tôi. Lúc đó nhà tôi không còn ở khu Xi măng (nhà cũ 50 đường Hà Nội). Bác lần tìm, dò hỏi cuối cùng tìm được nhà tôi (lúc đó đã dọn sang ở 82 Quang Trung và hiện nay là 101 Phố QuangTrung).

Sau 40 năm xa cách biết bao thay đổi duy chỉ có tình bạn bè thì vẫn như xưa. Cuộc gặp gỡ thật là cảm động. Từ đó tôi và nhà tôi thường đến thăm các bác. Nhà Bác ở số 2 ngõ Hàng Giầy. Bác gái có quầy hàng vải ở chợ Đồng Xuân. Sau khi cháy chợ Đồng Xuân bác nghỉ không bán hàng nữa.

Hai bác sinh được 8 người con gái - chị đầu tên là chị Yên cũng bằng tuổi chị Tân (con bác Kình) và chị Bính (chị tôi). Cuối cùng hai bác được một người con trai là Nguyễn Đăng Anh.

Nguyễn Đăng Anh là kỹ sư làm việc tại Sở giao thông vận tải tỉnh Ninh Bình (1970 – 1972). Thời gian này tôi là chuyên viên về đường bộ của Bộ giao thông vận tải. Nhờ sự quen biết của mình với các anh lãnh đạo, tôi đã xin được cho Đăng Anh chuyển về làm việc tại chi cục đăng kiểm Hà Nội để được gần nhà, có điều kiện xây dựng gia đình và chăm sóc ông bà.

Hai bác rất vui về việc làm này của tôi.

 

Bác Ký Phong

Bác tên là Phạm Thanh Phong là bạn học với bố tôi ở trường thành chung Nam Định. Sau này lại cùng ở khu xi măng Hải Phòng hai nhà gần nhau.

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Bác làm thư ký của Nhà máy Xi măng Hải Phòng. Bác đi kháng chiến chống Pháp. Khi tiếp quản Hải Phòng (1956) bác trở lại Nhà máy Xi măng làm Trưởng phòng hành chính tổ chức của nhà máy đến khi nghỉ hưu.

Trước CMT8, bác cùng bố tôi hoạt động trong “Hội Truyền Bá Quốc Ngữ” - một tổ chức tiến bộ nhằm mục đích xoá nạn mù chữ trong nhân dân.

Bác sinh được 3 người con giai và 1 cô con gái là:

  • Phạm Thanh Tâm (Hoạ sỹ)
  • Phạm Thanh Phú (Chuyên viên ban thanh tra Chính phủ)
  • Phạm Thanh Toàn (Giám đốc phân xưởng Đá Minh Đức, Nhà máy Xi măng Hải Phòng)
  • Phạm Thị Thanh Nga.

Bác Phong gái rất thân với mẹ tôi. Các con của hai bà (chúng tôi) hầu như sinh cùng năm.

Tôi cùng tuổi với Tâm và hai cô út đều tên Thanh Nga cùng tuổi với nhau. Mẹ tôi kể chuyện tôi và Tâm thường được bú chung dòng sữa của hai mẹ.

Cho đến nay chúng tôi (con cái của hai nhà) vẫn kết bạn với nhau như các bố mẹ.

Comments