Tin tức‎ > ‎

Mừng sinh nhật lần thứ 76 ông Nguyễn Xuân Chúc

đăng 07:13, 29 thg 9, 2008 bởi Hoang Nguyen Xuan   [ đã cập nhật 03:03, 25 thg 10, 2008 ]

Nói chuyện về gia phả Họ Nguyễn - Hành Quần


Ngày 30/09/2008 tại Hải Phòng. Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 76 của mình, ông Nguyễn Xuân Chúc, với sự có mặt của đông đảo con cháu cụ Nguyễn Xuân Huyên, đã có bài nói  chuyện về cội nguồn của dòng họ Nguyễn - Hành Quần.



Kính gửi: Các anh chị em con cháu cành cụ đồ Nguyễn Xuân Huyên thuộc chi đệ tứ họ Nguyễn làng Hành Quần huyện Nam Trực tỉnh Nam Định.
Hôm nay là ngày sinh nhật lần thứ 76 của tôi. Trước hết tôi cảm ơn mọi người trong họ đã đến mừng sinh nhật, những người ở xa thì gửi quà hoặc điện mừng.
Nhân dịp này tôi gửi tặng mỗi cành một bảng phả hệ họ Nguyễn Hành Quần chi đệ tứ tức là chi họ nhà ta.

Bản phả hệ này là bản viết bằng chữ Hán lập vào năm 1938. Bản này tình cờ được tìm thấy đựng trong một ống quyển kèm theo một tờ sắc phong, để ở từ đường cụ Tài Nhượng tức là cụ Phủ Hà (Phủ Hà là tên gọi theo chức vụ, vì cụ là tri phủ huyện Hà Trung – Thanh Hóa), Cụ Tài Nhượng là cao tổ chi đệ tứ là chi họ nhà ta. Bản này do ông Nguyễn Ánh Hồng là hậu duệ đời thứ 10 chi đệ tứ dịch và được tôi hiệu chỉnh thông qua một số bạn bè thông hiểu chữ Hán giúp đỡ. Ngoài bản phả hệ này còn một quyển gia phả họ Nguyễn làng Hành Quần. Bản này ghi chép đầy đủ hơn bản phả hệ. Gia phả gồm cả 4 chi của cụ tổ như sau:

Đời thứ nhất: Cao cao tổ Thiếu Quỳnh

Đời thứ hai:


  • Chi trưởng (chi đệ nhất): Cao tổ - Công Dực
  • Chi đệ nhị: Cao tổ - Công Quyền
  • Chi đệ tam: Cao tổ - Tài Thức
  • Chi đệ tứ: Cao tổ - Tài Nhượng

Quyển này được hoàn thành vào năm 1974 do công sức của:
- Người dịch từ chữ Hán là ông Nguyễn Văn Hiếu đời thứ 9 chi đệ tứ.
- Người sưu tầm là ông Nguyễn Ngọc Mao đời thứ 10 chi đệ tam và ông Nguyễn Duy Cơ đời thứ 9 chi đệ tứ.
- Các người tham gia bổ sung là:
  • 1-Nguyễn Văn Ngọ đời thứ 10 chi đệ nhất
  • 2-Nguyễn Văn Đường đời thứ 10 chi đệ nhất
  • 3-Nguyễn Văn Giữa đời thứ 8 chi đệ tam
  • 4-Nguyễn Văn Thống đời thứ 9 chi đệ tam
  • 5-Nguyễn Văn Sáng đời thứ 9 chi đệ tam
  • 6-Nguyễn Văn Viễn đời thứ 9 chi đệ tam
  • 7-Nguyễn Văn Nhân đời thứ 9 chi đệ tam
  • 8-Nguyễn Văn Chắt đời thứ 10 chi đệ tam
  • 9-Nguyễn Văn Phẩm đời thứ 12 chi đệ tam
  • 10-Nguyễn Đức Nhuận đời thứ 9 chi đệ tứ
  • 11-Nguyễn Văn Bá đời thứ 10 chi đệ tứ


Quyển này được ông Nguyễn Ngọc Tĩnh đời thứ 9 chi đệ tứ tìm thấy vào năm 2000 (sau 24 năm). Đó là một bản đánh máy chữ lâu ngày đã bị mờ và nhiều chỗ đã bị rách. Ông Tĩnh chế bản bằng máy vi tính và in ra phổ biến cho họ hàng. Rất tiếc là các người dịch và sưu tầm đều đã mất nên hiện nay chưa tìm được nguyên bản gốc (chữ Hán), và có một số điểm chưa rõ. Đây là điểm tồn tại cần tiếp tục làm sáng tỏ.

Nghiên cứu quyển gia phả này thấy rằng: các chi trưởng, chi đệ nhị và chi đệ tam đã được bổ xung (đến đời thứ 12, 13), riêng chi đệ tứ mới có đến đời thứ 10.

Tôi đã có dịp gặp ông Ngọc Tĩnh - qua trao đổi tâm nguyện của ông Ngọc Tĩnh cũng như tôi là cố gắng biên soạn bổ xung thêm vào lịch sử dòng họ cho đến hiện tại (2008) để làm cơ sở cho con cháu sau này bổ xung tiếp làm rạng danh dòng họ Nguyễn - Hành Quần.

Trước mắt cháu Nguyễn Xuân Hoàng (đời thứ 12 chi đệ tứ) là cháu nội ông Nguyễn Xuân Nhiên đã lập một trang Webside về dòng họ Nguyễn - Hành Quần.

Địa chỉ: http://www.nguyenxuan.org

Xin nêu để mọi người có dịp tìm hiểu thêm.

* *

*

Trước khi giới thiệu chi tiết hai tư liệu gia phả họ Nguyễn - Hành Quần nêu trên, tôi xin tổng hợp một số kiến thức về giáo dục và quan chế, phẩm, tước thời kỳ phong kiến Việt Nam trong giai đoạn gia phả của dòng họ để mọi người tham khảo. Tôi nghĩ rằng điều này là cần thiết vì con cháu hiện nay có thể chưa biết rõ.

Về giáo dục:

Thời phong kiến là học chữ Hán. Bắt đầu từ triều đại nhà Lý (Lý Nhân Tông 1075) và đến khóa thi hương cuối cùng ở triều nhà Nguyễn là năm kỷ mùi (1919).
Thông thường thời gian học là 10 năm nên có câu thập niên đăng hỏa là 10 năm đèn sách.

Bắt đầu học là lớp khai tâm học các sách:
-Sơ học vấn tân
-Tam tự kinh
-Minh đạo gia huấn
-Ấu học ngũ ngôn
-Nhất thiên tự
-Tam thiên tự
-Ngũ thiên tự

Nội dung chủ yếu là học chữ và nghĩa, thuộc mặt chữ, hiểu nghĩa và biết viết chữ.
Học hết chương trình này xem là biết đọc, biết viết chữ Hán.
Ở Trung Quốc hiện nay ai đọc và viết được 1000 từ thì coi là biết chữ.
Các lớp này do các thầy đồ dạy ở làng.

Qua được lớp khai tâm lớp tiếp theo là học: Tứ thư là 4 quyển sách gồm:
- Luận ngữ
- Đại học
-Trung dung
- Mạnh tử.


Ngũ kinh là 5 kinh gồm:
- Kinh thi
- Kinh thư
- Kinh lễ
- Kinh dịch
- Kinh Xuân Thu


Ngoài ra có thể đọc thêm 1 số sách khác như: Bách gia chư tử.

Các lớp học trên là bậc học ở trường huyện hoặc tỉnh mở.
Sau khi học ở các trường, tốt nghiệp thì đủ điều kiện để đi thi.
Người tốt nghiệp là thủ khoa ở các trường này được gọi là ông Xứ.
Ví như đọc lịch sử ta thấy có ông Xứ Nhu tức ông Nguyễn Khắc Nhu một nhà cách mạng. Ông đã đỗ thủ khoa của trường.
Trong gia phả có ghi ông Công Dực là cao tổ chi đệ nhất còn gọi là ông Xứ Dực tức là cụ đã là thủ khoa của một trường tỉnh Nam Định.
Sau khi học xong các chương trình trên là việc đi thi. Các khoa thi gồm có: Thi hương - Thi hội - Thi đình.

Thi hương là thi ở quê hương ở một vùng hoặc một tỉnh. Thí dụ Nghệ An có trường thi (cho cả Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình), Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nội v v…đều có trường thi. Thi hương do các học quan ở tỉnh tổ chức. Người đi thi hương gọi là nho sinh. Nho sinh phải được học hết chương trình ở các trường tỉnh như nêu ở trên và phải có lý lịch rõ ràng trong sạch.

Thi hương gồm có 4 kỳ thi:
  • Kỳ thứ nhất: thi kinh nghĩa, thư nghĩa. Đỗ kỳ này gọi là ông nhất trường.
  • Kỳ thứ hai: thi về chiếu, chế và biểu. Đỗ kỳ này gọi là ông nhị trường.
  • Kỳ thứ ba: thi về thơ phú. Đỗ kỳ này gọi là tú tài.
  • Sau khi đỗ tú tài thì thi cử nhân gọi là thi hội.

Ghi chú: Nếu thi cử nhân không đỗ, khóa thi sau phải thi tú tài lại từ đầu. Vì vậy có những người không đỗ cử nhân đỗ đến hai lần tú tài (gọi là tú kép) hoặc 3 lần (gọi là tú mền).

Thi hội có 1 kỳ là thi về văn, sách. Đỗ kì thi hội thì gọi là cử nhân.
Sau khi đỗ cử nhân mới được xét bổ nhiệm quan chức tri châu, tri huyện trở lên hoặc các chức vụ về học quan như: Giáo thụ (phụ trách việc học của một huyện) Huấn đạo (phụ trách việc học của 1 phủ hoặc 1 tỉnh).

Ai đỗ cử nhân thì được vào kinh đô để thi đình. Đỗ kỳ thi đình là tiến sỹ gọi là ông Nghè và còn gọi là đỗ Đại khoa.

Tiến sỹ cũng chia thành nhiều bậc.
  • Trạng nguyên
  • Bảng nhãn
  • Thám hoa
  • Phó bảng

Ở triều nhà Nguyễn không phong chức trạng nguyên mà thay gọi là Hoàng Giáp và thêm cấp bậc phó bảng.

Về họ ngoại nhà tôi có cụ Đỗ Văn Toại là em ông ngoại tôi (cụ Đỗ Trọng Yêm) đỗ phó bảng năm Thành Thái thứ 3 (1907) gọi là ông Bảng Toại. Sau khi đỗ phó bảng được bổ nhiệm ngay làm tri huyện ở Hoành Bồ (Quảng Ninh).

Dòng họ Nguyễn có cụ Nghè Giao Cù là cụ Vũ Hữu Lợi (Vũ Công Lợi) là cháu ngoại Cụ Nguyễn Kim Tuy hậu duệ đời thứ 6 của cụ cao cao tổ (Thiếu Quỳnh) là người đỗ đạt cao nhất. Cụ đỗ đệ tam giáp tiến sỹ đồng xuất thân khoa thi Ất Hợi là năm Tự Đức thứ 28 (năm 1875).


Cụ là một người lãnh đạo phong trào cần vương đã hy sinh vì Tổ Quốc. Để nhớ ơn cụ, Chính Phủ đã đặt tên 1 phố ở Thủ Đô Hà Nội là phố Vũ Hữu Lợi.

Phố Vũ Hữu Lợi nằm song song với phố Nguyễn Du và vuông góc với đường Lê Duẩn. Đây là niềm vinh dự tự hào to lớn của cả dòng họ ta.

Về chức tước và phẩm hàm

Về phẩm hàm có chín bậc gọi là cửu phẩm. Mỗi phẩm hàm lại có chánh và phó, gọi là chánh và tòng.
Thí dụ: Nhất phẩm gồm: chánh nhất phẩm và tòng nhất phẩm.
Mỗi bậc phẩm hàm có một tên gọi thứ tự từ trên xuống như sau:
  • Chánh nhất phẩm là: Thái tử thái bảo
  • Tòng nhất phẩm là: Thái tử thiếu bảo
  • Chánh nhị phẩm là: Thái tử thái phó
  • Tòng nhị phẩm là: Thái tử thiếu phó
  • Chánh tam phẩm là: Thái thường tự khanh
  • Tòng tam phẩm là: Thái thường thiếu khanh
  • Chánh tứ phẩm là: Quang lộc điện tự khanh
  • Tòng tứ phẩm là: Quang lộc điện thiếu khanh
  • Chánh ngũ phẩm là: Hồng lô tự khanh
  • Tòng ngũ phẩm là: Hồng lô thiếu khanh
  • Chánh lục phẩm là: Hàn lâm thị độc - thị giảng
  • Tòng lục phẩm là: Hàn lâm biên tu-trước tác-tu soạn
  • Chánh thất phẩm là: Hàn lâm cung phụng
  • Tòng thất phẩm là: Hàn lâm đãi chiếu
  • Chánh bát phẩm
  • Tòng bát phẩm
  • Chánh cửu phẩm
  • Tòng cửu phẩm




Tổng quan về gia phả Họ Nguyễn – Hành Quần


Cao cao tổ

Tức là cụ tổ họ Nguyễn làng Hành Quần là cụ Thiếu Quỳnh, tự là Hữu Pháp - hiệu là Phúc Kiểm – húy là Thiếp.
Ngày giỗ là 12 tháng 08 (âm lịch) - thọ 75 tuổi.
Cụ được phong phẩm hàm là Quang Lộc Điện Thiếu Khanh tức là phẩm hàm Tòng tứ phẩm. Về tước vị được phong Nam Tước.
Mộ cụ tại thôn Lũng Đầm.

Đời thứ hai (Cao tổ)

  • Cụ Thiếu Quỳnh sinh được 5 người con giai là:
  • Con trưởng là cao tổ chi đệ nhất: Công Dực
  • Con thứ hai là cao tổ chi đệ nhị: Công Quyền
  • Con thứ ba là cao tổ chi đệ tam: Tài Thức
  • Con thứ tư là cao tổ chi đệ tứ: Tài Nhượng
Cụ Phủ Kinh tên là Đình Thức, là con giai cụ Tài Thức
Họ ta là thuộc chi đệ tứ ngành thứ hai là ngành cụ Tài Lượng con cụ Tài Nhượng.

***
Trong gia phả thống kê đến năm 1974, thì dòng họ đã ghi được như sau:
  • Chi đệ nhất (kế truyền đến đời thứ 13) 285 người.
  • Chi đệ nhị (kế truyền đến đời thứ 12) 52 người.
  • Chi đệ tam (kế truyền đến đời thứ 13) 777 người.
  • Chi đệ tứ:
    • Ngành trưởng (Tài Rao) (kế truyền đến đời thứ 13) 171 người.
    • Ngành thứ (Tài Lượng) (kế truyền đến đời thứ 10) 197 người.


Tổng cộng ( cả cụ cao cao tổ) 1485 người

Bảng phả hệ trên chủ yếu chỉ tính số người là nam, số con gái ghi không được đầy đủ lắm, và một số cành còn thiếu nên số liệu chỉ để tham khảo, thí dụ: cành nhà ta đến nay (2008) đã phát triển đến đời thứ 13 nhưng qua gia phả chỉ mới ghi đến đời thứ 10. Chúng ta cần bổ xung tiếp để gia phả được hoàn chỉnh đầy đủ.

Do lịch sử dòng họ thời cận đại và hiện đại còn thiếu thông tin nên những ý kiến phân tích của tôi nêu sau dây, chỉ tính đến hết thế kỷ 19 (năm 1900) là thời kỳ nho học và chủ yếu chỉ nêu về con giai.

Tính đến hết thế kỷ 19. Số đinh (nam giới) của dòng họ như sau:

  • Chi đệ nhất có: 195 suất đinh
  • Chi đệ nhị có: 30 suất đinh
  • Chi đệ tam có: 632 suất đinh
  • Chi đệ tứ :
    • Ngành trưởng có: 141 suất đinh
    • Ngành thứ có: 128 suất đinh.

Tổng cộng: 1127 suất đinh.

Muốn đất nước phát triển, đời sống được nâng cao thì phải phát triển giáo dục. Đầu tư để phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu của nước ta hiện nay.
Trước đây, việc giáo dục cũng được coi trọng, dẫn chứng như sau:
Mở đầu sách “Minh đạo gia huấn” là sách học ở lớp khai tâm có câu: Nhân sinh bách nghệ - Nho học vi tiên, nghĩa là : trong xã hội có một trăm nghề thì nghiệp học là hàng đầu.
Hoặc như: Trong 5 thành phần xã hội: Sĩ – Nông – Công – Thương – Binh thì kẻ Sĩ là đứng hàng đầu.

Dòng họ Nguyễn - Hành Quần nhà ta được suy tôn là một dòng họ hiếu học có nhiều người thành đạt. Theo gia phả, trong dòng họ có 15 người làm ngành giáo dục trong đó có 8 người là thầy đồ (dạy trường làng) 2 người là tổng sư (dạy trường tổng) 2 người là giáo thụ (phụ trách về việc học của một huyện) là các cụ Công Quyền (cao tổ chi đệ nhị) và cụ Nguyễn Một (đời thứ 6 chi đệ tam) 2 người là huấn đạo (phụ trách việc học của một tỉnh) là các cụ Nguyễn Quang Thức (đời thứ 9 chi đệ tam) và cụ Nguyễn Cẩm (đời thứ 5 chi đệ tứ).

Cao nhất là cụ Nguyễn Công Thứ (hậu duệ đời thứ 4 chi đệ tứ ngành cụ Tài Rao) dạy học ở Tứ Lâm Cục, là một trong 3 cơ quan tương đương các viện nghiên cứu ngày nay đời xưa gọi là tam quán gồm: Sùng Văn Quán, Nho Lâm Quán và Tứ Lâm Cục.

Trong dòng họ có 58 người đỗ đạt gồm có:
Đỗ cao nhất là cụ nghè Vũ Hữu Lợi là đệ tam giáp tiến sỹ đồng xuất thân (chi tiết đã được nêu ở trên).
  • 1 người là thủ khoa của trường nho sinh ở tỉnh là ông Sứ Dực (cao tổ chi đệ nhất).
  • 3 người đỗ nhất trường
  • 5 người đỗ nhị trường
  • 24 người đỗ tú tài
  • 25 người đỗ cử nhân

Đặc biệt là cụ Nguyễn Vận (đời thứ 7 chi đệ tứ là ông nội cụ Nguyễn Xuân Huyên nhà ta), đỗ cử nhân năm 17 tuổi, là người ít tuổi nhất đỗ cử nhân đời nhà Nguyễn.
Ngoài ra còn có cụ Nguyễn Công Doanh (đời thứ 6 chi đệ nhất) đã rất kiên trì, thi đỗ đến 8 khoa tú tài (đời xưa cứ 3 năm có 1 kỳ thi, như vậy cụ đã thi trong vòng 24 năm).
Hay như cụ Nguyễn Công Chung (đời thứ 6 chi đệ tứ) và con là cụ Công Hanh đều đỗ 2 khoa tú tài.
Cụ cao cao tổ Thiếu Quỳnh có 5 người con thì cả 5 người đều đỗ đạt trong đó:
  • Cụ Công Dực là: Thủ khoa đầu xứ
  • Cụ Công Quyền là:Tú tài
  • Cụ Tài Thức là: Cử nhân
  • Cụ Tài Nhượng là: Cử nhân
  • Cụ huyện Châu Lang là: Cử nhân

Cụ Tài Thức (cao tổ chi đệ tam) sinh 5 người con trai và cả 5 người đều đỗ đạt là các cụ :
  • Đình Thức tri phủ Kinh Môn đỗ cử nhân
  • Tài Thi (còn gọi là cụ Hầu Tá) đỗ cử nhân
  • Chu Sở Sứ đỗ cử nhân
  • Nguyễn Giản đỗ tú tài
  • Nguyễn Nguyên Tuân đỗ tú tài

Cành nhà ta, đời thứ 10 là cụ Nguyễn Xuân Nhiên có 6 người con trai. Mặc dầu trong thời gian đất nước trải qua 2 cuộc chiến tranh nhưng tất cả đều vượt qua khó khăn học thành đạt.
  • Bác trưởng: Nguyễn Xuân Vinh là tiến sỹ, viện sỹ viện hàn lâm khoa học Pháp, tiến sỹ không gian vũ trụ, viện sỹ viện hàn lâm quốc tế về không gian vũ trụ, giáo sư chủ nhiệm khoa vũ trụ của trường đại học Michigan Hoa Kỳ. Ngoài ra bác còn giảng dạy ở nhiều trường đại học nổi tiếng trên thế giới. Bác được nhận 2 giải thưởng khoa học cao quý về không gian vũ trụ quốc tế là giải AIA và giải Drik Brouwer Award.
  • Nguyễn Xuân Chúc: Kỹ sư trưởng của ngành giao thông Hải Phòng. Đã phụ trách xây dựng nhiều công trình giao thông quan trọng như:
    • Đường 13A là đường ôtô vận chuyển chủ yếu trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
    • Một số công trình cầu lớn của Hải Phòng (cầu Rào, cầu Niệm, cầu An Dương, cầu Lạc Long…) trong giai đoạn xậy dựng hòa bình.
  • Nguyễn Xuân Đăng: Đại học sư phạm, chuyên viên sở giáo dục Hải Phòng, phụ trách về bổ túc văn hóa. Là người được anh em trong ngành gọi thân mật là “chuyên gia bình định nông thôn” nghĩa là người chuyên xây dựng các trường bổ túc văn hóa của các huyện.
  • Nguyễn Xuân Quang: Kỹ sư cầu đường sở giao thông tỉnh Quảng Ninh. Là kỹ sư thiết kế nhiều công trình giao thông Quảng Ninh như: Cầu Cầm đường 18 - đường vào khu di tích Yên Tử - đường lên Pò Hèn. (Pò Hèn là một cao điểm quan trọng của tuyến biên giới Việt Nam-Trung Quốc).
  • Nguyễn Xuân Huy: Tiến sỹ khoa học. Là người đã có công đào tạo nhiều tiến sỹ, thạc sỹ của ngành tin học Việt Nam.
  • Nguyễn Chí Bảo: Kỹ sư cơ khí thủy sản. Là hiệu phó trường kỹ thuật quân khu 3, chuyên đào tạo sỹ quan hải quân.

Trong dòng họ ta số người đỗ đạt xuất chính làm quan có 22 người như sau:
  • Chi đệ nhất: 7 người
  • Chi đệ nhị: 1 người
  • Chi đệ tam: 12 người
  • Chi đệ tứ: 2 người
Tổng cộng: 22 người. Trong đó có 13 người làm tri phủ tri huyện.

Chức quan cao nhất là cụ Ngọc Chấn đời thứ 7 chi đệ nhất, trước là tri huyện, do làm quan chính trực thanh liêm được vua triệu vào kinh thăng chức Ngự Sử, sau làm Án Sát ở Bắc Ninh.
Về quan võ có cụ Nguyễn Tế đời thứ 4 chi đệ tam.
Chức quan: Chính Vệ Úy được vua Lê Hiển Tông trọng dụng trao quyền “tiền trảm hậu tấu”.

Về phẩm hàm dòng họ có các vị được triều đình phong phẩm hàm như sau:

  • Cụ cao cao tổ Thiếu Quỳnh được phong tòng tứ phẩm Quang Lộc điện thiếu khanh và được phong Nam Tước.
  • Cụ Tài Thi đời thứ 3 chi đệ tam được phong hầu tước Chân Bình Hầu.
  • Cụ Nguyễn Quang đời thứ 5 chi đệ tam được phong tước Chân Nghĩa Nam.
  • Cụ Tài Rao đời thứ 3 chi đệ tứ được phong phẩm hàm Hồng Lô Thiếu Khanh (tòng ngũ phẩm).
  • Cụ Công Hoạt đời thứ 5 chi đệ tứ được phong tử tước là Điện Tiền Chân Nghĩa.
Về cành nhà ta, do công lao với đất nước nên trong cùng 1 năm cả hai anh em là cụ Đức Huân và Cụ Xuân Nhiên đều được triều đình tặng sắc phong Hàn Lâm như sau:
  • Cụ Nguyễn Đức Huân sắc phong Hàn Lâm Thị Độc (chánh lục phẩm).
  • Cụ Nguyễn Xuân Nhiên sắc phong Hàn Lâm Biên Tu (tòng lục phẩm).


Ở một làng quê nghèo Việt Nam thời bấy giờ, một dòng họ trong vòng 6 đến 7 đời đạt được những thành tựu trên thật là niềm tự hào của cả dòng họ.
Do thời gian có hạn và thông tin chưa đầy đủ, nên những điều tôi nêu trên đây mới tính đến hết thế kỷ 19 và những năm đầu của thế kỷ 20.
Đến nay, dòng họ ta đã phát triển đến đời thứ 14. Rất mong được sự đóng góp bổ xung của anh em con cháu trong dòng họ để gia phả được hoàn chỉnh và phát huy được những truyền thống cao đẹp của họ tộc.

Mọi thông tin xin liên hệ theo địa chỉ:
Nguyễn Xuân Chúc
Số 101 Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Tel: 0313.838518
Mobile: 01686470361
Email: nguyenxuanchuc@vnn.vn

Comments