Những tấm gương sáng trong học hành thành đạt...

 

 NHỮNG TẤM GƯƠNG SÁNG VỀ HỌC HÀNH THÀNH ĐẠT

CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN LÀNG HÀNH QUẦN

 

Ông Nguyễn Xuân Chúc. Đại diện hậu duệ đời thứ 11 Họ Nguyễn làng Hành Quần, chi đệ tứ (Cụ Phủ Hà) biên soạn cuốn sách Những tấm gương sáng trong học hành thành đạt của dòng họ nhân dịp khánh thành từ đường tằng tổ (cụ Phủ Kiến). BBT trang web dòng họ xin trân trọng giới thiệu toàn bộ cuốn sách này:

                                           

Hải Phòng, tháng 10 năm 2013

 
 

Phần mở đầu

 

 

Kính thưa:

- Các vị huynh trưởng.

- Các anh chị em con cháu của dòng họ.

- Các vị đại biểu.

           

Tôi là Nguyễn Xuân Chúc đại diện cho hậu duệ các đời thứ : 11-12-13-14 của dòng họ Nguyễn Hành Quần chị đệ tứ cành cụ đồ Nguyễn Xuân Thúy.

Nhân ngày Lễ khánh thành Từ đường tằng tổ Nguyễn Tài Lượng, chi đệ tứ, các bậc huynh trưởng giao cho tôi nhiệm vụ là “nói chuyện về sự học hành thành đạt của dòng họ”.

Đây là một việc trọng đại phải làm chu đáo. Dòng họ ta từ cụ tổ Nguyễn Hữu Pháp (cụ Thiếu Quỳnh) phát triển đến nay đã được 14 đời – gần 400 năm.

Các bậc tiền nhân dòng họ ta có rất nhiều người học hành thành đạt, nhiều người tài giỏi có công với đất nước làm rạng danh dòng họ, nên với thời gian ngắn không thể nói hết dược.

Bởi vậy chúng tôi xin phép viết thành một tập tư liệu gửi đến các thành viên họ tộc để mọi người cùng tìm hiểu, nghiên cứu, đóng góp thêm ý kiến.

Cành nhà chúng tôi do không ở quê hương đến nay đã 150 năm. Việc hương khói tiên tổ được các cành của họ tộc gìn giữ chu đáo, chúng tôi vô cùng biết ơn.

 

 

Chúng tôi mong được các thành viên họ tộc góp ý để hoàn chỉnh tài liệu lịch sử dòng họ.

 

Địa chỉ: Nguyễn Xuân Chúc 101-Quang Trung-Hải Phòng

Điện thoại nhà riêng : 0313 838518

Điện thoại di động : 0168 6470361

Email: xuanchuc32@gmail.com

 

 

Những tấm gương sáng về học hành thành đạt

của các bậc Tiền nhân

 

Quê nội tôi là làng Hành Quần – xã Tang Trữ - Tổng Bái Dương – Huyện Nam Trực – Tỉnh Nam Định nay là làng Hành Quần – xã Nam Bình – huyện Nam Trực – tỉnh Nam Định .

           Lúc bé tôi thường được bà nội và mẹ tôi kể rằng “họ Nguyễn Hành Quần nhà ta là một dòng họ học hành, tài giỏi, thành đạt, được mọi người nể trọng ”. Gần đây tôi tìm được những tài liệu vô cùng quý giá về gia phả và lịch sử họ Nguyễn Hành Quần, từ cụ tổ đến đời tôi là hậu duệ thứ 11. Do đó mới hiểu biết được cặn kẽ về truyền thống học hành thành đạt của dòng họ.

 

Cao cao tổ tức là cụ tổ họ Nguyễn làng Hành Quần là cụ Thiếu Quỳnh, tự là Hữu Pháp - hiệu là Phúc Kiểm – húy là Thiếp.

Ngày giỗ là 12 tháng 08 (âm lịch)     -    thọ 75 tuổi.

Cụ được phong phẩm hàm là Quang Lộc Điện Thiếu Khanh tức là phẩm hàm Tòng tứ phẩm. Về tước vị được phong Nam Tước.

Đời thứ hai (Cao tổ).

Cụ Thiếu Quỳnh sinh được 5 người con giai là:

Con trưởng là cao tổ chi đệ nhất: Công Dực

Con thứ hai là cao tổ chi đệ nhị: Công Quyền

Con thứ ba là cao tổ chi đệ tam:  Tài Thức

Con thứ tư là cao tổ chi đệ tứ:  Tài Nhượng

Cụ Phủ Kiến là Tài Lượng con cụ Tài Nhượng

 

*    *

Dòng họ Nguyễn -  Hành Quần nhà ta được suy tôn là một dòng họ hiếu học có nhiều người thành đạt. Theo gia phả, trong dòng họ có 15 người làm ngành giáo dục trong đó có 8 người là thầy đồ (dạy trường làng) 2 người là tổng sư (dạy trường tổng) 2 người là giáo thụ (phụ trách về việc học của một huyện) là các cụ Công Quyền (cao tổ chi đệ nhị) và cụ Nguyễn Một (đời thứ 6 chi đệ tam) 2 người là huấn đạo (phụ trách việc học của một tỉnh) là các cụ Nguyễn Quang Thức (đời thứ 9 chi đệ tam) và cụ Nguyễn Cẩm (đời thứ 5 chi đệ tứ).

 

Trong dòng họ có 58 người đỗ đạt gồm có:

 

     1 người là thủ khoa của trường nho sinh ở tỉnh là ông Xứ Dực (cao tổ chi đệ nhất).

     3 người đỗ nhất trường

     5 người đỗ nhị trường

     24 người đỗ tú tài

     25 người đỗ cử nhân

-Cụ Tài Thi đời thứ 3 chi đệ tam đỗ Tú Tài là huyện thừa ở An Vinh sau phong Tả Dụ Đức. Tả Dụ Đức và Hữu Dụ Đức là hai chức quan ở đông cung (trật hàm là Tòng Tam Phẩm) giữ việc hầu thái tử để bàn luận và dẫn dụ nghĩa sách cho thái tử.

- Cụ Nguyễn Công Thứ, hậu duệ đời thứ 4 chi đệ tứ ngành cụ Tài Rao dạy học ở Tứ Lâm Cục, một trong 3 cơ quan tương đương các viện nghiên cứu ngày nay( đời xưa gọi là tam quán gồm: Sùng Văn Quán, Nho Lâm Quán và Tứ Lâm Cục)

- Gia đình cụ Kim Tuy đời thứ 6 chi đệ nhất là một gia đình cả nhà làm nghề dạy học và nổi tiếng trong vùng về học hành thành đạt. Cụ Kim Tuy đỗ tú tài năm Tân Mão sinh ra:

+ Đình Kiên ông đồ dạy học còn gọi là ông đồ Cả

+ Ngọc Chân ông đồ dạy học còn gọi là ông đồ Hai

+ Văn Trọng ông đồ dạy học còn gọi là ông đồ Ba

+ Một người con gái lấy ông Vũ Công Chân sinh ra ông Vũ Hữu Lợi là ông Nghè Giao Cù phụ trách giáo duc của tỉnh Nam Định.

Đặc biệt là cụ Nguyễn Vận (đời thứ 7 chi đệ tứ là ông nội cụ Nguyễn Xuân Huyên nhà ta), đỗ cử nhân năm 17 tuổi, là người ít tuổi nhất đỗ cử nhân đời nhà Nguyễn.

Ngoài ra còn có cụ Nguyễn Công Doanh (đời thứ 6 chi đệ nhất) đã rất kiên trì, thi đỗ đến 8 khoa tú tài (đời xưa cứ 3 năm có 1 kỳ thi, như vậy cụ đã thi trong vòng 24 năm).

Cụ Nguyễn Công Chung (đời thứ 6 chi đệ tứ) và con là cụ Công Hanh đều đỗ 2 khoa tú tài.

Cụ cao cao tổ Thiếu Quỳnh có 5 người con thì cả 5 người đều đỗ đạt trong đó:

Cụ Công Dực là: Thủ khoa đầu xứ

Cụ Công Quyền là: Tú tài

Cụ Tài Thức là: Cử nhân

Cụ Tài Nhượng là: Cử nhân

Cụ huyện Châu Lang là: Cử nhân

 

Cụ Tài Thức (cao tổ chi đệ tam) sinh 5 người con trai và cả 5 người đều đỗ đạt là các cụ

Đình Thức tri phủ Kinh Môn đỗ cử nhân

Tài Thi (còn gọi là cụ Hầu Tá) đỗ cử nhân

Chu Sở Sứ  đỗ cử nhân

Nguyễn Giản đỗ tú tài

Nguyễn Nguyên Tuân đỗ tú tài

Cành đệ tứ cha truyền con nối từ đời thứ nhất đến bảy đời tiếp theo đều có người đỗ đạt thành danh .

- Cụ Tài Nhượng – đỗ cử nhân làm tri phủ Hà Trung sinh ra cụ tài Lượng

- Cụ Tài Lượng đỗ cử nhân làm tri phủ Kiến Xương - sinh ra cụ Nguyễn Đãng

- Cụ Nguyễn Đãng đỗ cử nhân làm tri huyện Vĩnh Khang - sinh ra cụ Nguyễn Cẩm

- Cụ  Nguyễn Cẩm đỗ cử nhân làm huấn đạo phủ Từ Sơn – sinh ra cụ An Định

- Cụ An Định đỗ Tú Tài năm Kỉ Dậu – sinh ra cụ Nguyễn Vận

- Cụ Nguyễn Vận đỗ cử nhân năm 17 tuổi . Cụ Nguyễn Vận là ông nội cụ Nguyễn Xuân Huyên.

Những thành tựu như trên ở thời đại ngày nay có thể có nhiều dòng họ đạt được nhưng ở bối cảnh lịch sử thời kì đó, kinh tế xã hội chưa phát triển, giáo dục rất hạn chế, trên 90% dân số không biết chữ, mà ở một làng quê, chỉ trong 1 dòng họ, trong khoảng 7 thế hệ đã đạt được như vậy là điều hiếm có. Nhiều vùng miền, cả làng, nhiều họ trong nhiều đời cũng không hề có ai đỗ đạt .

 

 Họ Nguyễn Hành Quần nhà ta có những vị được nhà vua phong tước như sau ;

Cụ cao cao tổ Thiếu Quỳnh được phong Nam Tước hiệu là Lan Đình (Lan Đình Nam)

Cụ Tài Thức, con thứ 3 cụ Thiếu Quỳnh được phong Nam Tước, hiệu là Mai Xuyên (Mai Xuyên Nam)

Cụ Tài Thi, con cụ Tài Thức được phong Hầu Tước, hiệu là Chân Linh ( Chân Linh Hầu)

Cụ Nguyễn Tế, cháu nội cụ Tài Thức được phong Bá Tước, hiệu là Bái Xuyên (Bái Xuyên Bá)

Cụ Nguyễn Quang, cháu đời thứ 5 cụ Thiếu Quỳnh được phong Nam Tước, hiệu là Chân Nghĩa (Chân Nghĩa Nam)

Cụ Nguyễn Công Hoạt, cháu đời thứ 5 cụ Thiếu Quỳnh được phong Tử Tước , hiệu là Chân Nghĩa (Chân Nghĩa Tử)

Cụ Nguyễn Quảng, cháu đời thứ 5 cụ Thiếu Quỳnh được phong Nam Tước, hiệu là Chân Nghĩa ( Chân Nghĩa Nam)

Cụ Nguyễn Tài Nhượng con thứ 4 cụ Thiếu Quỳnh được phong Nam Tước, hiệu là Ân Vinh (Ân Vinh Nam)

 

Trên đây là những tấm gương sáng về học hành thành đạt của các bậc tiền nhân trong thời kì Nho học, tính từ năm 1919 trở về trước. Thời kì tiếp theo gọi là thời kì tân học, tính từ năm 1920 đến ngày nay. Thời kì này trong dòng họ Nguyễn Hành Quần vẫn kế tục xứng đáng truyền thống hiếu học của các bậc tiền nhân. Các cành đều có những người học giỏi đạt đến trình độ cao, bậc Đại học và trên Đại học được Nhà nước trọng dụng.

Tuy nhiên, do chưa thu thập được hết những thông tin cụ thể từ các cành nên chúng tôi chưa thể nêu danh được đầy đủ các tấm gương học hành thành đạt của dòng họ trong thời kì tân học. Nhân đây, chúng tôi cũng đề nghị các bậc huynh trưởng của các cành tích cực thu thập thông tin về những tấm gương học tập giỏi giang thành đạt trong cành của mình gửi về cho chúng tôi để có thể nêu danh tiếp trong một dịp gần đây để các thế kế tiếp noi theo phấn đấu và tu dưỡng.

 

Nguồn tài liệu gốc để tìm hiểu về sự học hành thành đạt

của các bậc tiền nhân

 Những tài liệu tìm thấy là một bản phả hệ và một quyển gia phả.

            Bản phả hệ viết bằng chữ Nho lập vào năm 1938. Bản này tình cờ được tìm thấy đựng trong một ống quyển kèm theo hai tờ sắc phong, để ở từ đường cụ Tài Nhượng tức là cụ Phủ Hà (Phủ Hà là tên gọi theo chức vụ, vì cụ là tri phủ Hà Trung – Thanh Hóa). Cụ Tài Nhượng là cao tổ chi đệ tứ là chi họ nhà ta. Bản này do ông Nguyễn Ánh Hồng là hậu duệ đời thứ 10 chi đệ tứ dịch và được tôi hiệu chỉnh thông qua một số bạn bè thông hiểu chữ Hán giúp đỡ.

            Ngoài bản phả hệ này còn một quyển gia phả họ Nguyễn làng Hành Quần. Bản này ghi chép đầy đủ hơn bản phả hệ. Gia phả gồm cả 4 chi của cụ tổ như sau:

Đời thứ nhất: Cao cao tổ Thiếu Quỳnh

Đời thứ hai:

- Chi trưởng (chi đệ nhất): Cao tổ  -  Công Dực

- Chi đệ nhị:                       Cao tổ  -  Công Quyền

- Chi đệ tam:                      Cao tổ  -  Tài Thức

- Chi đệ tứ:                         Cao tổ  -  Tài Nhượng.

Quyển này được hoàn thành vào năm 1974 do công sức của:

- Người dịch từ chữ Nho là ông Nguyễn Văn Hiếu đời thứ 9 chi đệ tứ.

- Người sưu tầm là ông Nguyễn Ngọc Mao đời thứ 10 chi đệ tam và ông Nguyễn Duy Cơ đời thứ 9 chi đệ tứ.

- Các người tham gia bổ xung là: 

1-Nguyễn Văn Ngọ đời thứ 10 chi đệ tứ

2-Nguyễn Văn Đường đời thứ 10 chi đệ nhất             

3-Nguyễn Văn Giữa đời thứ 8 chi đệ tam

4-Nguyễn Văn Thống đời thứ 9 chi đệ tam

5-Nguyễn Văn Sáng đời thứ 9 chi đệ tam

6-Nguyễn Văn Viễn đời thứ 9 chi đệ tam

7-Nguyễn Văn Nhân đời thứ 9 chi đệ tam

8-Nguyễn Văn Chắt đời thứ 10 chi đệ tam

9-Nguyễn Văn Phẩm đời thứ 12 chi đệ tam

10-Nguyễn Đức Nhuận đời thứ 9 chi đệ tứ

11-Nguyễn Văn Bá đời thứ 10 chi đệ tứ

Các cụ đã làm việc tại nhà cụ Nguyễn Văn Ngọ ở làng Hành Quần trong 4 tháng và hoàn thành vào năm 1974 .

Quyển này được ông Nguyễn Ngọc Tĩnh đời thứ 9 chi đệ tứ tìm thấy vào năm 2000 (sau 26 năm). Đó là một bản đánh máy chữ lâu ngày đã bị mờ và nhiều chỗ đã bị rách. Ông Tĩnh chế bản lại trên máy vi tính và in ra phổ biến cho họ hàng. Rất tiếc là các người dịch và sưu tầm đều đã mất nên hiện nay chưa tìm được nguyên bản gốc (chữ Nho), và có một số điểm chưa rõ. Đây là điểm tồn tại cần tiếp tục làm sáng tỏ.

            Nghiên cứu quyển gia phả này thấy rằng: các chi trưởng, chi đệ nhị và chi đệ tam đã được bổ xung (đến đời thứ 12, 13), riêng chi đệ tứ mới có đến đời thứ 10. Tôi đã có dịp gặp ông Ngọc Tĩnh - qua trao đổi tâm nguyện của ông Ngọc Tĩnh cũng như tôi là cố gắng biên soạn bổ xung thêm vào lịch sử dòng họ cho đến hiện tại (2008) để làm cơ sở cho con cháu sau này bổ xung tiếp làm rạng danh dòng họ Nguyễn - Hành Quần.

Trước hết, cháu Nguyễn Xuân Hoàng (đời thứ 12 chi đệ tứ) là cháu nội ông Nguyễn Xuân Nhiên đã lập một trang Webside về dòng họ Nguyễn - Hành Quần.

Địa chỉ trang web là :  http://www.nguyenxuan.org

Xin nêu để mọi người có dịp tìm hiểu thêm.           

 

 Diễn giải thêm về phẩm hàm và tước vị các triều đại

thời phong kiến ở nước ta

 

Để hiểu rõ về những tấm gương học hành thành đạt của họ Nguyễn Hành Quần, tôi nói thêm về giáo dục thời phong kiến. Trong lĩnh vực giáo dục của nước ta từ trước đến nay có thể chia thành hai thời kì. Mốc thời gian giữa 2 thời kì lấy là năm 1919 là năm có khoa thi hương cuối cùng của thời phong kiến. Hai thời kì đó là :

1. Thời kì Nho học (học chữ Nho)

2. Thời kì Tân học (học chữ quốc ngữ như hiện tại)

*

*     *

            Trước khi giới thiệu chi tiết hai tư liệu gia phả họ Nguyễn - Hành Quần nêu trên, tôi xin tổng hợp một số kiến thức về giáo dục và quan chế, phẩm, tước thời kỳ phong kiến Việt Nam trong giai đoạn gia phả của dòng họ để mọi người tham khảo. Tôi nghĩ rằng điều này là cần thiết vì con cháu hiện nay có thể chưa biết rõ.

 

Về giáo dục:

 

Thời phong kiến là học chữ Nho. Bắt đầu từ triều đại nhà Lý (Lý Nhân Tông 1075) và đến khóa thi hương cuối cùng ở triều nhà Nguyễn là năm kỷ mùi (1919).

Thông thường thời gian học là 10 năm nên có câu thập niên đăng hỏa là 10 năm đèn sách.

 

Bắt đầu học là lớp khai tâm học các sách:

-Sơ học vấn tân -Tam tự kinh -Minh đạo gia huấn -Ấu học ngũ ngôn

-Nhất thiên tự -Tam thiên tự -Ngũ thiên tự

Nội dung chủ yếu là học chữ và nghĩa, thuộc mặt chữ, hiểu nghĩa và biết viết chữ.

Học hết chương trình này xem là biết đọc, biết viết chữ Nho.

Ở Trung Quốc hiện nay ai đọc và viết được 1000 từ thì coi là biết chữ.

Các lớp này do các thầy đồ dậy ở làng.

Qua được lớp khai tâm lớp tiếp theo là học: Tứ thư là 4 quyển sách gồm: - Luận ngữ - Đại học  - Trung dung - Mạnh tử. Ngũ kinh là 5 kinh gồm: - Kinh thi - Kinh thư - Kinh dịch  - Kinh lễ  - Kinh Xuân Thu.

Ngoài ra có thể đọc thêm 1 số sách khác như: Bách gia chư tử…

Các lớp học trên là bậc học ở trường huyện hoặc tỉnh mở. Sau khi học ở các trường, tốt nghiệp thì đủ điều kiện để đi thi. Người tốt nghiệp là thủ khoa ở các trường này được gọi là ông Xứ, tiếng đọc tắt của đầu Xứ. Ví như đọc lịch sử ta thấy có ông Xứ Nhu tức ông Nguyễn Khắc Nhu một nhà cách mạng. Ông đã đỗ thủ khoa của trường.

Trong gia phả có ghi ông Công Dực là cao tổ chi đệ nhất còn gọi là ông Xứ Dực tức là cụ đã là thủ khoa của một trường tỉnh Nam Định.

Sau khi học xong các chương trình trên là việc đi thi. Các khoa thi gồm có:  Thi Hương - Thi Hội - Thi Đình.

Thi Hương là thi ở quê hương ở một vùng lớn trường thi đặt ờ một tỉnh trong vùng. Thí dụ Nghệ An có trường thi (cho cả Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình), Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nội v v…đều có trường thi. Thi Hương do các học quan ở tỉnh tổ chức, chánh chủ khảo được sắc vua bổ nhiệm. Người đi thi Hương gọi là nho sinh. Nho sinh phải được học hết chương trình ở các trường tỉnh như nêu ở trên và phải có lý lịch rõ ràng trong sạch.

Thi Hương gồm có 4 kỳ thi:

Kỳ thứ nhất: thi kinh nghĩa, thư nghĩa. Đỗ kỳ này gọi là ông nhất trường.

Kỳ thứ hai: thi về chiếu, chế và biểu. Đỗ kỳ này gọi là ông nhị trường.

Kỳ thứ ba: thi về thơ phú. Đỗ kỳ này gọi là tú tài.

Sau khi đỗ tú tài thì thi kỳ cuối cùng và được chấm đậu thì gọi là cử nhân, người dân thường gọi là ông Cống. Kỳ thi này thí sinh được khảo về văn sách. Thi hương được tổ chức 3 năm một lần.

Ghi chú: Nếu thi cử nhân không đỗ, khóa thi sau phải thi tú tài lại từ đầu. Vì vậy có những người không đỗ cử nhân mà đỗ đến hai lần tú tài (gọi là tú kép) hoặc 3 lần (gọi là tú mền).

Sau khi đỗ cử nhân mới được xét bổ nhiệm quan chức tri châu, tri huyện trở lên hoặc các chức vụ về học quan như: Giáo thụ (phụ trách việc học của một huyện) Huấn đạo (phụ trách việc học của 1 phủ hoặc 1 tỉnh).

Ai đỗ cử nhân thì được vào kinh đô để thi Hội và thi Đình. Kỳ thi này được tổ chức 5 năm một lần. Kỳ thi Hội dùng để chọn lựa, những thí sinh ở các nơi đều về nên gọi là thi Hội. Ai qua được kỳ này thì được vào cung đình để khảo thí nên gọi là thi Đình. Đỗ kỳ thi Đình là tiến sỹ, gọi là đỗ đại khoa, người dân thường gọi là ông Nghè.

Tiến sỹ cũng chia thành nhiều bậc, gọi là đệ Nhất giáp, đệ Nhị giáp, vả đệ Tam giáp.

Tiến sỹ đệ Nhất giáp có 3 người được gọi tên theo thứ bậc, đệ Nhất danh, đệ Nhị danh và đệ Tam danh tức là : - Trạng nguyên - Bảng nhãn        -

Thám hoa

Ở triều nhà Nguyễn không phong chức Trạng nguyên. Những người ở đệ Nhị giáp, và đệ Tam giáp, danh sách thường có mỗi kỳ thi vào khoảng hơn hai mươi người được phân chia một nửa là đệ Nhị giáp tiến sỹ và đệ Tam giáp tiến sỹ đồng xuất thân. Ngoài ra mỗi kỳ thi còn có vài người đuợc ghi danh đỗ đại khoa trong một bảng phụ và được gọi là phó bảng.

Họ Nguyễn Hành Quần có hai người đỗ tiến sỹ là:

Cụ cao cao tổ Nguyễn Hữu Pháp(tức cụ Thiếu Quỳnh) đỗ tiến sỹ thời nhà Lê.

 cụ Nghè Giao Cù là cụ Vũ Hữu Lợi (Vũ Công Lợi) là cháu ngoại Cụ Nguyễn Kim Tuy hậu duệ đời thứ 6 của cụ cao cao tổ (Thiếu Quỳnh). Cụ đỗ đệ Tam giáp tiến sỹ đồng xuất thân khoa thi Ất Hợi là năm Tự Đức thứ 28 (năm 1875). Cụ là một người lãnh đạo phong trào cần vương đã hy sinh vì Tổ Quốc. Để nhớ ơn cụ, Chính Phủ đã đặt tên 1 phố ở Thủ Đô Hà Nội là phố Vũ Hữu Lợi.

Phố Vũ Hữu Lợi nằm song song với phố Nguyễn Du và vuông góc với đường Lê Duẩn. Đây là niềm vinh dự tự hào to lớn của cả dòng họ ta.

 

 

Về chức tước và phẩm hàm:

 

Về tước vị có 5 tước là: Công tước - Hầu tước – Bá Tước - Tử tước - Nam tước; do nhà vua phong tặng cho những người có công với đất nước.

Về phẩm hàm có chín bậc gọi là cửu phẩm. Mỗi phẩm hàm lại có chánh và phó, gọi là chánh và tòng.

Thí dụ: Nhất phẩm gồm : chánh nhất phẩm và tòng nhất phẩm.

Mỗi bậc phẩm hàm có một tên gọi thứ tự từ trên xuống như sau:

 Chánh nhất phẩm là  Tòng nhất phẩm là:      

Chánh nhị phẩm là:     

Tòng nhị phẩm là:        

Chánh tam phẩm là:    

Tòng tam phẩm là:       Chánh tứ phẩm là:       Tòng tứ phẩm là:       Chánh ngũ phẩm là:    

Tòng ngũ phẩm là:       

Chánh lục phẩm là:   Tòng lục phẩm là:      

Chánh thất phẩm là: 

Tòng thất phẩm là:      

Chánh bát phẩm

Tòng bát phẩm

Chánh cửu phẩm

Tòng cửu phẩm

Thái tử thái bảo

Thái tử thiếu bảo

Thái tử thái phó

Thái tử thiếu phó

Thái thường tự khanh

Thái thường thiếu khanh

Quang lộc điện tự khanh

Quang lộc điện thiếu khanh

Hồng lô tự khanh

Hồng lô thiếu khanh

Hàn lâm thị độc thị giảng

Hàn lâm biên tu                                

Hàn lâm cung phụng

Hàn lâm đãi chiếu

   

 

MỤC LỤC

 

Đề mục

 

Phần mở đầu

Những tấm gương sáng…

Nguồn tài liệu gốc

Diễn giải thêm

MỤC LỤC

 Trang

 

3

5

10

13

19

 

 

 

 

 

 

 

 

Biên soạn tại Hải Phòng

Tháng 10 năm 2013

NGUYỄN XUÂN CHÚC

 

 

 

 

 

 

Comments