Thư giãn‎ > ‎

Giai thoại gia đình

 

Những chuyện vui về mẹ tôi

(Tức cụ Đỗ Thị Thảo) 

Nguyễn Xuân Chúc ghi chép

1. Cho em xin cái bong bóng

Mẹ tôi lấy bố tôi lúc 15 tuổi. Đến ngày cưới mình cũng chẳng biết. Hôm cưới nhà bố tôi giết lợn làm cỗ. Mẹ tôi đang rửa chân dưới cầu ao nhà bác Thủ Khảng gặp bố tôi đi về qua cũng xuống rửa chân.Thấy bố tôi mẹ tôi bảo:

- Anh Nhinh ơi anh Nhinh! nhà anh hôm nay giết lợn đấy à? tý nữa cho em xin cái bong bóng nhé.

Ghi chú: 

- Nhinh là tên tục của bố tôi tên thật chính là Nhiên

- Hồi trước trẻ con hay lấy bong bóng lợn để làm bóng đá. Hễ có nhà ai giết lợn thì tranh nhau xin bong bóng

2. Cất đi hòn cái

Lấy chồng về nhà chồng ở Hải Phòng. Tối đi ngủ với bà nội tôi. Bà tôi xờ túi mẹ tôi thấy hòn xành làm hòn cái trẻ con thường đánh đáo. Lấy ra bà đưa cho bố tôi và bảo: cất đi cho nó, không sáng mai nó tìm không thấy thì khổ.

3. Chơi đồ hàng với mợ

Anh Yên là con cô Yên cũng trạc tuổi mẹ tôi. Lúc ấy anh Yên ở với bà nội tôi.Một hôm bà bảo anh Yên: cháu dỗ mợ (mẹ tôi) chơi đồ hàng, Đừng cho mợ chơi nhẩy dây, lò cò lỡ ra xẩy thai thì khốn.

Ghi chú:  

- Nhẩy dây và lò cò là hai chò chơi của trẻ con ngày trước.

- Lúc ấy mẹ tôi đang có mang chị Bính.

4. Xin bà cho cái a-đờ-rét

Một hôm mẹ tôi đi từ Hà Nội về Hải Phòng bằng ô tô ray (ô tô ray là ô tô chạy trên đường sắt) ngày xưa chỉ có đường Hà Nội - Hải Phòng là có ô tô ray. Xe chạy tốc hành không dừng ở ga nào. Vé xe ô tô ray rất đắt nên chỉ có người giầu mới đủ tiền đi. Hành khách đa phần là người Pháp.

Về nhà mẹ tôi kể chuyện với bố tôi. Hôm nay trên xe có một bà đầm nói tiếng ta rất sõi đến xin tiền. Mẹ tôi móc túi còn bao nhiêu tiền cho bà ta hết. Sau bà ta bảo mẹ tôi là: xin bà cái a đờ rét. Mẹ tôi lộn túi ra và bảo có bao nhiêu tôi cho bà hết rồi, tôi chẳng còn gì cả.

Mẹ bảo bố tôi: tại sao con mẹ đầm ấy tham thế?

Bố tôi cười và nói bà ta xin cái địa chỉ (tiếng Pháp adresse là địa chỉ)

Mẹ tôi ngớ ra và nói: nào ai biết tiếng Tây đâu mà hiểu a-đờ-rét là cái gì?

 

5. Tôi chỉ quý cái giống họ Nguyễn Hành Quần

Tôi được nghe kể chuyện rằng khi biết tin ông ngoại gả con gái cho bố tôi, có người bảo ông rằng:

Sao nhiều nơi "trâu giắt ra bò giắt vào” ông không gả con lại đi gả tận Hải Phòng, nhà cửa chẳng biết thế nào?
Ông ngoại tôi cười bảo: Tôi không kén gốc rạ như các ông. Nghe nói họ Nguyễn ở Hành Quần thông minh tài giỏi. Tôi gả con để lấy giống. Nếu sau này nó nghèo khổ thì về đây tôi làm nhà cho.

Ghi chú:

- Nói trâu giắt ra bò giắt vào ý nói nhà giầu nhiều trâu bò.

- Nói kén gốc rạ là nói kén nhà giầu có nhiều ruộng đất.

Sau này khi gả dì Huyền (em gái mẹ tôi) cho bố tôi, ông Tuần Cốc là người cùng họ Đỗ bảo ông tôi rằng: Gớm chưa? cho một đứa lấy giống còn chưa đủ hay sao lại cho thân đứa nữa đi lấy giống.

 

Những mẩu chuyện về bác giáo Huân

(Tức cụ Nguyễn Đức Huân) 

1. Có họ với ông huyện Thủy Nguyên

Mới tốt nghiệp cao đẳng sư phạm Hà Nội, bác Huân được bổ nhiệm làm giáo thụ huyện Thuỷ Nguyên.

Được bổ nhiệm ai cũng mừng. Một người quen bác tôi nói:  Nếu ngài đi Thuỷ Nguyên thì tôi xin giới thiệu với quan huyện. Chả là chỗ tôi với quan huyện là có họ gần. Bác tôi mừng lắm hỏi: Thế ngài với quan huyện có họ hàng thế nào ?

Ông ấy nói liền một mạch như thuộc lòng: chồng cô nó nhà tôi gọi mẹ vợ quan huyện là thím.

Về nhà bác kể chuyện với cả nhà và bảo: tao tính ra chẳng có họ gì.

(Nhận vơ, chỉ thấy người sang bắt quàng làm họ) súng ca nông bắn cũng chẳng đến.

Chú thích: 

Ngày xưa giáo thụ là một quan chức nhà nước coi việc học của một huyện. Các chức vụ về giáo dục ngày xưa là:

  • Dạy học trường làng gọi là hương sư (ở làng chỉ có lớp vỡ lòng).
  • Dạy học ở trường tổng gọi là tổng sư (trường tổng có đến lớp 3 là sơ học yếu lược)
  • Trông coi việc học của một huyện là giáo thụ.
  • Trông coi việc học của một tỉnh là huấn đạo.

 

2. Chữ đại tự của Trạng Lợn

Trạng Lợn là một câu chuyện lúc bé tôi đã đọc. Trạng Lợn được in thành sách, nhưng phân vân không biết đó là nhân vật thật hay hư cấu. Bác tôi kể một chuyện về Trạng Lợn như sau mà chuyện này không thấy trong truyện Trạng Lợn.

Trang Lợn di sứ Trung Quốc được phong là lưỡng quốc trạng nguyên. Đi sứ về qua một ngôi làng. Ở đó dân mới xây một đình vọng nguyệt. Nghe nói trạng hay chữ, dân làng bầy hương án để xin trạng cho chữ để đề bảng đại tự.

Nghe tiếng trống tế lễ, Trạng hỏi: Cái gì thế?

- Phu võng bẩm là: Dân làm lễ xin chữ quan.

- Trạng nghĩ bụng: Có chữ gì mà cho nên dục phu võng chạy.

Các cụ trong làng nghĩ là có gì phật lòng Trạng nên cứ chạy đuổi theo. Càng chạy theo thì Trạng càng sợ, giục chạy nhanh. Vì chạy nhanh, cáng bị xóc nên Trạng bảo  “trùng trùng”  nghĩa là thấp võng xuống cho đõ xóc.

Các cụ chạy đã mệt thấy Trạng nói  “trùng trùng”  tưởng là Trạng cho chữ, vui mừng trở về làm một bức hoành phi đề hai trữ  “trùng trùng”  treo lên.

Đời sau, Mạc Đĩnh Chi là một ông Trạng tài giỏi có thật trong lịch sử nước ta. Đi sứ Trung Quốc được phong là lưỡng quốc Trạng nguyên.

Khi đi sứ về qua làng thấy dân làng chào đón và thưa là: Các cụ đời trước kể lại có một ông Trạng Việt Nam cho chữ nhưng đến tận bây giờ không ai giải được nghĩa chữ là gì. Nay quan cũng được phong lưỡng quốc Trạng nguyên như quan trước đã cho chữ, xin quan giải nghĩa cho.

Ông Mạc Đĩnh Chi bảo cho xem bức hoàng phi. Thấy đề hai chữ: “trùng trùng” biết rằng chữ này chi có Trạng Lợn cho mà thôi. Nhanh trí, ông Mạc Đĩnh Chi giải là: chữ phong và chữ nguyệt nhưng không có bờ bao quanh thì là chữ “trùng trùng”  vậy chính là Trạng cho chữ “phong nguyệt vô biên”. Nghĩa là gió và trăng rất nhiều không có bến bờ nào cả.

Một đình vọng nguyệt mà đề chữ như vậy thật là tuyệt hảo.

Dân làng bèn làm một bức hoàng phi mới “Phong Nguyệt Vô Biên” treo dưới bức “trùng trùng”.

 

Những mẩu chuyện về ông Nguyễn Xuân Chúc 

1. Hai lần nhận được sách

Trong đời tôi có hai lần nhận được sách rất đặc biệt. Xin kể lại như sau:

Lần đầu nhận được sách

Năm 1950 tôi đang học ở trường Cao Đẳng Kĩ Thuật Việt Nam. Lúc đó là thời kỳ kháng chiến chống Pháp, mọi thứ đều thiếu thốn, riêng về sách lại càng thiếu. Hoàn toàn sách ở bậc đại học đều là sách tiếng Pháp, ngoài kháng chiến hầu như không có. Chỉ vài người đặc biệt và một vài thầy giáo mới có vài quyển. Sách in được truyền tay nhau mà sao chép để học.

Một hôm tôi nhận được tin của dì chú tôi là ông bà Lục bảo có quà từ vùng địch chiếm gửi cho tôi, báo tôi về nhận quà.

Thời kỳ đó, cán bộ và nhân dân vùng kháng chiến(gọi là vùng tự do) sinh hoạt vô cùng khó khăn, gian khổ, thiếu thốn mọi bề, nên thường được người nhà ở vùng tạm chiếm gửi cho quà gọi là tiếp tế.

Cán bộ được người nhà tiếp tế gọi là cán bộ có 5 chữ E nghĩa là có 5 thứ quý giá là:

  • đồng hồ VILE
  • bút máy PÁC KE
  • quần áo KA KI ĂNGLE
  • đội mũ LI E.
  • xe đạp MÉC XI E.

Bạn bè tôi nghe nói tôi có quà ở vùng địch hậu gửi ra, ai cũng mừng rỡ giục tôi đi lấy.

Khi đến nhà dì, thấy dì tôi đưa cho hai quyển sách nói rằng sách của anh Vinh gửi cho. Đó là hai quyển:

- Lượng giác của FERVAL

- Toán đại cương của TETERL

Đó là hai quyển sách rất quý giá. Khi trở lại trường ai cũng tưởng ít ra thì cũng có cái xe đạp nhưng khi thấy đưa ra hai quyển sách. Ai cũng tiu nghỉu. Riêng tôi thì rất vui sướng. Món quà ấy như bây giờ thì phải bằng một xe ô tô du lịch.

Lần thứ hai nhận được sách

Năm 1970 tôi công tác ở Bộ giao thông vận tải ở khu tập thể của cơ quan số 53 Hàng Buồm, Hà Nội. Em Nguyễn Xuân Huy thì học ở Liên Xô. Thời kỳ đó là kháng chiến chống Mỹ. Cuộc sống cũng rất khó khăn chẳng khác gì thời kỳ chống Pháp. Đa số mọi người được đi học nước ngoài thì học là phụ, mà lấy hàng để cải thiện đời sống là chính. Nghe nói đi học nước ngoài là nghĩ nay khi về sẽ rất giầu. Đi Liên Xô thì có:  quạt tai voi, nồi áp xuất, bàn là điện, xe đạp cuốc Liên Xô, đài Rigonđa. Đi Trung Quốc thì: xe đạp Phượng Hoàng, chăn con công, đài Xiong mao. Đi Tiệp thì có: xe Java, đài o-ri-on-ton ..vv.

Một hôm tôi nhận được giấy báo ra bưn điện nhận hàng từ Liên Xô gửi về. Khu tập thể tôi ở mọi người xôn xao bàn tán, chắc chuyến này tôi giàu to có những mười thùng hàng, hàng Liên Xô gửi về cơ mà.

Tôi đi nhận hàng ở bưu điện và rất lo lắng vì nghèo, lương chỉ đủ ăn, lấy gì mà thuê vận chuyển bốc vác. Gay nhất là tôi ở phố Hàng Buồm nhưng buồng tập thể tôi lại ở trong cùng, ngõ vào ngoắt nghéo tiền công phải tốn lắm.

Đến bưu điện, lĩnh hàng xong ra thuê một bác xích lô, lại còn phải chở đến chỗ kiểm tra tính thuế.Vì nhiều người nhận hàng nên phải chờ đợi hai ba tiếng đồng hồ mới đến lượt.

Gần hết giờ buổi sáng, các anh cán bộ kiểm tra thuế mới đến và hỏi:

 - Hàng gì?

Tôi trả lời: - không rõ vì em tôi gửi về nhờ tôi nhận hộ, còn người thì về sau.

Tôi mở hòm ra cho anh kiểm tra, thấy toàn là sách.

Anh hỏi : - tất cả như vậy à?

Tôi bảo : - đúng thế!

Anh ta nói: thôi xếp vào mà mang về. Thế này thì có gì mà phải rối rít lên thế. Cái này chẳng đáng giá gì, không có trong danh mục biểu tính thuế.

Chở hàng về đến nhà, bác xích lô bảo tôi. Sao anh đi nước ngoài về mà dại thế? Mang thứ này về làm gì? Sao không mua lấy vài cái quạt tai voi có giá hơn không? Tôi làm ở đây đã lâu chở hàng nước ngoài cho bao nhiêu người, chẳng ai dốt như anh cả. Chắc thế này thì nghèo lắm. Thôi tôi giảm cho hai phần tiền công chuyên chở chỉ lấy anh năm hào thôi (năm hào vào khoảng năm mười ngàn thời giá hiện nay).

Điều lý thú là: hai người gửi sách đều là anh em tôi. Lần 1 là bác Nguyễn Xuân Vinh, lần 2 là em Nguyễn Xuân Huy. Cả hai người hiện nay đều là tiến sỹ khoa học. Một người tiến sỹ ở Mỹ và một người tiến sỹ ở Việt Nam.

 

2. Chọn bí danh

Sau cách mạng tháng tám năm 1945, tôi và bác Nguyễn Xuân Vinh ở trong đội thiếu niên tiền phong khu An Biên Hải Phòng. Bác Vinh là đội trưởng.

Lúc đó, một số đội viên xuất xắc được tuyển chọn vào một đội làm nhiệm vụ trinh sát giúp việc cho cơ quan an ninh nhưng lấy danh nghĩa là liên lạc viên của thành đội tự vệ Hải Phòng.

Theo nguyên tắc bí mật mỗi người phải tự chọn cho mình một bí danh để dùng trong công tác.

Tôi hỏi anh Vinh: anh chọn bí danh là gì?

Bác bảo tôi: em phải giữ kín không nói với bất cứ ai. Bí danh của anh là Ngô Xương Văn (tên của ông con trưởng vua Ngô Quyền) sở dĩ anh chọn vậy là vì các chữ đứng đầu trùng với tên của anh là Nguyễn Xuân Vinh.

Tôi thích cách chọn của anh lắm. Tôi rất kính phục ông Trần Quốc Toản một nhân vật lịch sử rất anh hùng nên cũng chọn cho mình bí danh là: Trần Hoài Văn (tước vị của Trần Quốc Toản là Hoài Văn Hầu). 

Anh Vinh bảo em  chọn như vậy cũng được nhưng nên đổi là Trần Văn Hoài thì nghe phổ thông hơn, đỡ bị chú ý.

Sau này tôi cũng nhiều lần dùng bí danh này làm bút danh. Những bài khảo cứu khoa học có giá trị thì dùng tên thật là Nguyễn Xuân Chúc còn nhưng bài có tính chất thông tin hoặc viết về nhưng sáng kiến kinh nghiệm tôi lấy bút danh là: Trần Văn Hoài, Trần Hoài Văn hoặc đơn giản là Hoài Văn.

Comments