Các bài Văn dự thi năm 2008 "Viết về Gia đình"


Ngô Tuấn Phong

đăng 07:00 24-12-2008 bởi Hoang Nguyen Xuan

Bài viết dự thi về Gia đình của Ngô Tuấn Phong - cháu ngoại ông Nguyễn Xuân Huy

Ông ngoại tôi 

Trong gia đình có rất nhiều người mà tôi yêu quý, nhưng trong đó, người mà tôi luôn kính trọng và biết ơn nhất, đó chính là ông ngoại tôi- ông Huy.

Thân hình ông hơi béo một chút, tóc đã bạc trắng như cước, trên khuôn mặt ông đã xuất hiện nhiều nếp nhăn của tuổi già. Ông là một vị Tiến sỹ tin học tài cao chức trọng ở viện Công nghệ Việt Nam- nơi ông đang làm việc. Đối với tôi, ông cực kỳ thông minh và luôn say mê tìm hiểu khoa học. Nghe đến tuổi của ông- cái tuổi ngoài sáu mươi thì ai cũng nghĩ là phải về hưu rồi, nhưng ông thì khác, ông vẫn còn hăng say làm việc nên đôi khi bà ngoại tôi thường cảm thấy buồn và cô đơn. Những lúc như vậy, tôi cũng muốn trách ông lắm nhưng công việc của ông là như thế, ai cấm được.

Vì công việc nên ông hay phải đi công tác nhiều nơi. Thỉnh thoảng, khi còn thừa vé, tôi lại được đi ké theo ông. Tuy công việc bộn bề, nhưng ông vẫn dành chút thời giờ cỏn con để đưa tôi và Bi- em họ tôi đi chơi dạo quanh các phố phường Hà Nội. Ông cũng thường (đi ngủ) thức quá khuya vì bận việc. Nhiều lúc phải thức suốt đêm để chấm bài trước khi lên lớp. Thật là có hại cho sức khoẻ. Tôi thấy thương ông những khi như vậy!

Mỗi khi đến 20-11- ngày Nhà giáo Việt Nam, ông luôn phải tiếp những học trò của mình nên không có thời gian nghỉ ngơi sau những giờ giảng bài trên lớp. Tôi hỏi ông có mệt không? Ông bảo: đó cũng là điều ông muốn, cháu ạ. Những người đó đến đây để hỏi thêm về những điều họ còn vướng mắc khi nghe giảng. Ông cũng đã giảng kỹ càng những điều đó cho họ rồi… từ câu nói đó, tôi biết được làm giáo viên không dễ chút nào.

Ông rất ham mê sách báo và thích đọc những tiểu thuyết nổi tiếng thế giới. Lúc rảnh rỗi, ông có thú vui là ngồi máy tính để tìm kiếm thông tin trên mạng. Ông có tài sáng tác thơ nên thường viết nhiều bài thơ tặng bà tôi.

Do hay tìm tòi, khám phá những cái mới lạ nên khi có hứng, ông thường đem những câu chuyện hài hước ra kể cho cả nhà nghe. Nghe xong ai cũng phải bật cười, cười đau hết cả bụng. Ông là người lì xì tôi nhiều nhất và răn dạy rằng phải cố gắng học giỏi để khỏi phụ công của bố mẹ. Tôi thầm hứa cuối năm sẽ đạt học sinh giỏi để ông bà và bố mẹ vui.

Ông tôi thật tài, tôi cũng muốn được giỏi giang như ông.

Tôi rất tự hào về ông và mong ông sống mãi, sống mãi để làm nốt những công việc dở dang của cuộc đời. 
 

Nguyễn Thị Kim Chi: Chuyện cháu Mạnh

đăng 06:58 24-12-2008 bởi Hoang Nguyen Xuan   [ đã cập nhật 22:53 25-12-2008 ]

Chuyện cháu Mạnh

Nguyễn Thị Kim Chi


Một trong những niềm tự hào của dòng họ Nguyễn Xuân là truyền thống hiếu học, trong dòng tộc có nhiều người đỗ đạt cao, công danh sự nghiệp sán lạn... Mặt khác, có những người tuy thành tích học tập không thật sự nổi bật, nhưng vẫn là tấm gương sáng về sự nỗ lực phấn đấu vượt khó trong học tập và trong cuộc mưu sinh… Một trong số con cháu có tinh thần vượt vượt lên số phận phải kể đến cháu trai Mai Sỹ Mạnh- cháu đích tôn của bà Tâm.

Cháu Mạnh là con trai duy nhất của Mai Sỹ Minh- con trai bà Nguyễn thị Băng Tâm. Từ lúc còn rất nhỏ, cuộc sống của gia đình cháu đã hết sức túng thiếu, khó khăn... Đã vậy, cháu sớm phải chịu cảnh mồ côi mẹ ngay từ khi còn nhỏ. Năm 1999, mẹ cháu mất sớm khi mới 34 tuổi do một căn bệnh hiểm nghèo, khi đó cháu mới 14 tuổi và đang học lớp 7- lớp cuối cấp của bậc học Trung học cơ sở (thời điểm chuẩn bị thi vào cấp III mà theo nhiều bậc phụ huynh đánh giá là còn quan trọng hơn cả thi vào Đại học). Năm năm sau đó- năm 2003, bố cháu lại qua đời đột ngột tại TP. Hồ Chí Minh, để lại trên cõi đời đứa con mồ côi cả Mẹ lẫn Cha khi cháu chưa tròn 18 tuổi...

Mộ mẹ cháu đặt gần mộ Bà Trẻ nên mỗi khi ra thăm mộ Mẹ Trẻ ở nghĩa trang chùa Đông Khê, chúng tôi thường ghé qua mộ mẹ cháu thắp hương. Một trong những chuyến đi thăm như vậy, tôi được nghe một câu chuyện cảm động về cháu Mạnh. Người trông coi nghĩa trang kể lại rằng: một hôm, chị thấy cậu bé khoảng chừng 14 tuổi đứng trước ngôi mộ có tên là Đỗ thị Bích Thuỷ, trên mộ có để vài trái cây rất rẻ tiền, miệng lầm rầm khấn:... Con chẳng có nhiều tiền, chỉ mua được cho mẹ mấy trái cây này- thứ mà trước đây mẹ vẫn thích ăn... sau này kiếm được nhiều tiền hơn, con sẽ làm mâm cơm thịnh soạn để cúng Mẹ... Thời gian đó, nhà cháu lâm vào cảnh “cửa không nhà trống” theo đúng nghĩa đen của từ này. Mọi cánh cửa bước tới tương lai tưởng chừng như đóng sập trước mặt cậu bé 14- 15 tuổi...

Như trên đã nói: năm 2003, bố cháu mất tại thành phố Hồ Chí Minh khi cháu đang học lớp 12, vào đúng thời kỳ đang ôn thi Đại học... hai cái Đại tang của đời người dồn dập ập xuống đầu một cậu con trai tuy đã qua cái tuổi trẻ con nhưng vẫn chưa đủ để thành người lớn, cái tuổi “bản lề” mà ranh giới giữa cái tốt và cái xấu đôi khi chỉ là một khái niệm vô hình hết sức mỏng manh, dễ dàng bị lầm đường lạc lối... Rất may là tuy mồ côi cả cha lẫn mẹ, nhưng cháu vẫn còn những người ruột thịt trong gia đình cưu mang, giúp đỡ trong những ngày tháng khó khăn nhất của đời mình.

Thời gian này, Mạnh vừa theo học lớp Sơ cấp Hàng hải, vừa làm ở quán Photo phụ giúp cho ông Bảo (em ruột bà Tâm) để thêm cập vào việc học, đỡ một phần cho Bà nội (hai bà cháu ở cùng nhau), vừa làm “gia sư” kèm học cho cậu em họ Sê- Kô, thỉnh thoảng lại tới đỡ đần Ông nội (cũng đang ốm đau bệnh tật)... Ở cháu đã có những suy nghĩ chín chắn của một người trưởng thành trước tuổi, đặc biệt là rất có ý thức trong việc học hành và giúp đỡ mọi người gia đình. Mạnh thường chủ động tìm hiểu, đào sâu suy nghĩ những kiến thức mới mẻ. Những lúc rỗi rãi, cháu thường hay đem sách ra tranh thủ học bài, hoặc hỏi ông Bảo những điều chưa thật hiểu ở lớp học. Đã nhiều lần tôi được chứng kiến cảnh hai ông cháu tranh luận với nhau về một bài toán hay một môn học nào đó. Cháu còn chịu khó tìm hiểu và rất tích cực tham gia giải những đề bài toán của dòng họ Nguyễn Xuân, dường như là cháu tìm thấy những niềm vui, niềm an ủi trong học tập và những lúc giải được bài toán khó...

Sau khi tốt nghiệp khoá học sơ cấp, cháu tiếp tục chuyển lên học liên thông Trung cấp Máy tàu biển và tốt nghiệp với tấm bằng đạt loại ưu. Ba năm học tập và làm việc phụ giúp ông Bảo, người ta thấy một cậu trai trẻ khoẻ mạnh, tháo vát, vui vẻ, hay cười tít mắt (cái cười thật giống bố như đúc) và thật dễ gần, dễ mến. Nếu chỉ nhìn vẻ bề ngoài thì ít ai biết rằng cháu là người vừa trải qua những biến cố ghê gớm của cuộc đời...

Năm 2006, Mạnh quyết định vào thành phố Hồ Chí Minh lập nghiệp với hành trang là tấm bằng Trung cấp Máy tàu và hai bàn tay trắng. Đây là một bước ngoặt quan trọng của cuộc đời cháu, mở ra cánh cửa tương lai tuy vẫn còn mờ mịt, nhưng đã thấy le lói ánh sáng ở phía xa... Một năm sau đó, với sự giúp đỡ của chú Vọng (con trai ông Bảo) và nỗ lực của bản thân, Mạnh đã có một công việc ổn định ở một cơ quan nhà nước, có thu nhập khá, và điều quan trọng hơn cả là vẫn bước tiếp trên con đường học vấn- vừa học vừa làm. Hiện nay cháu đang theo học Đại học tại chức khoa Quản trị Kinh doanh và học thêm ngoại ngữ. Vậy là từ đứa trẻ cùng khổ, mồ côi cả cha lẫn mẹ, Mạnh đã biết nỗ lực vượt lên hoàn cảnh, tự tìm cho mình một con đường đi vững vàng, một tương lai sáng sủa. Tuy còn kém xa nhiều con cháu trong dòng họ Nguyễn Xuân về con đường học vấn, công danh sự nghiệp, con đường phía trước vẫn còn nhiều gian nan, vất vả, nhưng hình ảnh cháu cũng góp một nét chấm phá điểm xuyết thêm cho vẻ đẹp của bức tranh toàn cảnh về sự hiếu học của gia đình, dòng họ, điều quan trọng hơn cả là cháu đã biết vượt lên số phận để trở thành một con người có ích cho gia đình và xã hội- điều mà trước đây bố cháu còn chưa làm được- đúng như lời dạy của ông bà ta: “Con hơn cha là nhà có phúc”...

Đào Ngọc Phương Anh

đăng 06:55 24-12-2008 bởi Hoang Nguyen Xuan   [ đã cập nhật 20:53 23-12-2008 ]

Gia đình tôi

Thời gian vừa qua, Tôi đang theo dõi một bộ phim truyền hình trên đài VTV3 mang tựa đề: “Bỗng dưng muốn khóc” đến nay đã hơn hai mươi tập rồi. Qua bộ phim này, tôi thấy mình thật hạnh phúc khi được sinh ra và lớn lên trong gia đình ấm áp đầy tình yêu thương ! Ở nơi đây- tại ngôi nhà nhỏ bé này, tôi đã có biết bao kỉ niệm cùng với bố mẹ, anh hai. Những kỉ niệm đó để lại trong tôi nhiều cảm xúc khó quên bởi nó đã in sâu trong trái tim tôi.

Gia đình tôi gồm bốn người: bố, mẹ, anh hai và tôi. Tôi yêu nhất là bố! Tuy bố không ở gần bên tôi nhiều như mẹ nhưng bố lại là người yêu tôi nhất nhà. Cái gì bố cũng chiều tôi, Bố chăm lo cho tôi từng chút moat, và ở trong nhà, bố cũng là người nghiêm khắc nhất. Mỗi lần đi công tác về, điều làm bố quan tâm nhất là chuyện học hành, sức khỏe của hai anh em tôi. Đối với tôi bố là người thật tuyệt vời!

Còn mẹ, tôi cũng yêu quý mẹ lắm! Trong tôi, hình ảnh của mẹ lúc nào cũng là một người phụ nữ luôn sống có trách nhiệm với công việc và gia đình. Mẹ là một người con hiếu thảo, một người vợ đảm đang, một người mẹ hiền hậu. Bởi thế nên mẹ luôn là thần tượng số một của tôi! Lúc nào mẹ cũng bận bịu: ngày đi làm mệt mỏi với hàng ngàn công việc, tối về lại lao vào việc nhà. Thế mà mẹ cũng gánh vác nổi, thật là một con người tài ba!!!

Cuối cùng là người anh dễ mến mà cũng rất dễ ghét của tôi. Trong những tháng năm lớn lên cùng anh tôi, đã có biết bao kỉ niệm vui lẫn buồn. Tôi với anh tôi “ghét” nhau lắm, thỉnh thoảng, nhà lại có cuộc cãi nhau rất sôi nổi nhưng cũng không kém phần vui nhộn, hấp dẫn giữa tôi và anh. Đôi lúc lại có người rơi lệ và tất nhiên người đó là tôi!!! Tuy như chó với mèo nhưng hai anh em tôi quý mến nhau lắm. Bố mẹ tôi kể ngày xưa, từ lúc mẹ mang thai cho đến khi đẻ tôi ra, anh tôi vui lắm, khi đó anh tôi mới sáu tuổi, ngày nào đi học về anh cũng đòi mẹ cho bế tôi chơi. Giờ đây, Anh hai tôi đã mười tám tuổi, năm nay A đang học lớp 12, vì là năm cuối cấp, chuẩn bị những kỳ thi quan trọng nên anh rất bận. Mặc dù vậy A vẫn dành thời gian để chỉ cho tôi những bài toán khó hay bài tập Anh văn mà tôi chưa hiểu. Và điều này thì phải bí mật không để Anh hai nghe, tôi rất tự hào vì có người anh đẹp trai và học giỏi như anh.

Tôi yêu gia đình tôi lắm! Tôi vẫn thường hãnh diện khi có được một gia đình hạnh phúc như thế này!

Sài gòn, ngày 18 tháng 10 năm 2008
Ghi chú: Đào Ngọc Phương Anh là con chị Mai Minh Hương, tức cháu ngoại bà Nguyễn Thị Băng Tâm 

Hoàng Trí Nhân (cháu ngoại bà Sinh, học lớp 7)

đăng 06:53 24-12-2008 bởi Hoang Nguyen Xuan

Bài thơ tặng em trai

Anh Quân em trai của tôi
Da trắng môi đỏ dáng người cao cao
Lại còn rất thích thể thao
Đánh võ, bóng rổ trò nào cũng hay

Điện tử, cờ tướng mê say
Nghiện uống sữa cứ mỗi ngày mấy ly
Làm kinh tế giỏi cực kì
Tiết kiệm số Một ai bì được đâu

Luôn luôn tính trước tính sau
Hay làm việc tốt chẳng cầu lợi riêng
Nóng nảy nhưng lại rất hiền
Chăm chỉ học tập thường xuyên mỗi ngày

Yêu Quân anh tặng thơ này
Chúc Quân học giỏi mai này hiển vinh!

Lê Hoàng Thùy Dương

đăng 06:48 24-12-2008 bởi Hoang Nguyen Xuan   [ đã cập nhật 06:53 23-12-2008 ]

Flame Bird
By Zu (May 17, 2007)
To Markie, my crystal clear friend.

Far and far in the far-way pine forest I heard the early morn's sound of a flame bird.
Down and down in the close home where I was laying my head on the poems sent to me.
A red, red rose was dropped down on the white paper near my head as the sound came close, and close and closer and I could see
In the air so swiftly one streak like an earth flame emerged
From the sound.
Bye baby bird, I will see you again. And thanks for the flower.
And the smell of the pine tree.

Till these days I still wonder how the flame bird got the rose for me...

Thùy Dương sáng tác bằng tiếng Anh (Tháng 5/2007)

                               Cậu Bảo dịch tiếng Việt ghi lại (Tháng 5/2008)


Chim Lửa

(Bản dịch 1)

Tặng Markie, người bạn trong trẻo của tôi 

Tôi ngồi trên thảm cỏ xanh
Gió đưa thoang thoảng hương lành rừng xa
Bóng con chim lưả vút qua
Thoáng như một ánh sao sa ngang trời
Tiếng chim - một đốm lửa rơi
Bùng lên khát vọng hồn tôi yên bình

Trên trang vở mới trắng tinh
Có bông hồng thắm tươi xinh mỉm cười
Ô kìa, ai gửi tặng tôi?
Hay là chim lửa đánh rơi vô tình

Cảm ơn sứ giả anh linh
Thắp lên ngọn lửa cho Tình yêu tôi...


(Bản dịch 2)

Tặng Markie, người bạn trong trẻo của tôi

Ở phía kia trong rừng thông xa thẳm
Vọng đến tôi âm thanh buổi sớm mai
Một chú chim cao giọng hót mê say
Ô, chim Lửa chào bình minh rực rỡ

Ở phía này trong ngôi nhà bé nhỏ
Tôi gối đầu lên những câu thơ
(Chút tâm tình ai đó đã gửi cho…)
Và bỗng thấy một bông hồng đỏ thắm…

Bông hồng rơi trên trang thơ say đắm!
Tôi chợt nhìn ra trời biếc bao la
Đốm lửa nào như vừa thoáng vút qua
Vệt lấp lánh trên từng không kỳ vĩ

Tạm biệt nhé , chim nhỏ xinh yêu quí
Xin cảm ơn Sứ giả với bông hồng
Cùng hương thơm ngây ngất của rừng thông
Làm xao xuyến tâm hồn ta ngày mới...

Đến tận giờ tôi vẫn không hiểu nổi
Hoa tặng tôi, chim mang đến cách nào ?

Nguyễn Thị Thái Hà

đăng 06:47 24-12-2008 bởi Hoang Nguyen Xuan   [ đã cập nhật 07:20 23-12-2008 ]

Mẹ tôi

Mẹ tôi là người dân tộc Thái Đen, quê ở xã Mường Chùm, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Mẹ tôi tên khai sinh là Hà Thị Lói, còn tên thường gọi là Hà Thị Phượng. Tôi được nghe mẹ kể rằng theo phong tục thì người phụ nữ Thái thường có hai tên. Tên lúc bé là tên khai sinh do bố mẹ đặt, khi lớn lên các cô gái cùng trang lứa ở trong bản, họp nhau kết bạn, các cô đặt tên cho nhau và tên đó là tên thường dùng.

Năm 1952 giải phóng Sơn La, mẹ tôi thoát ly gia đình vào đội thanh niên xung phong. Đội được giao nhiệm vụ mở đường phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ đó Người mới được học nói tiếng Kinh và học chữ quốc ngữ. Bố tôi kể chuyện rằng đến khi lấy ông, bà vẫn chưa nói sõi tiếng Kinh, có lúc ông đố bà đếm bằng tiếng Kinh đến 100 mà bà đếm mãi không được, cứ lẫn lộn.

Nhớ về mẹ, trước hết tôi nhớ đến sự kiên trì cố gắng trong học tập. Từ một cô gái chỉ mới thoát nạn mù chữ, chưa hề được cắp sách đến trường mà chỉ sau bốn năm (1957), vừa làm vừa học bà đã trở thành một nhân viên thống kê kỹ thuật của Sở giao thông khu Tây Bắc. Công việc hàng ngày là lập các bảng thống kê kỹ thuật tổng hợp tình hình hàng tháng của các đơn vị đường bộ toàn khu gồm ba tỉnh Sơn La, Lai Châu, và Nghĩa Lộ. Bà sử dụng thành thạo thước tính Lô-ga-rít, một loại công cụ toán học của trình độ đại học, trợ giúp việc tính toán, chức năng gần như máy tính điện tử bây giờ. Tám năm sau (1965), bà nhận được bằng Trung cấp kỹ thuật đường bộ. Thời kỳ đó số cán bộ kỹ thuật trung cấp về đường bộ cả Miền Bắc mới có khoảng gần 800 người.

Trong những năm 1964 – 1967 là thời kỳ chiến tranh phá hoại Miền Bắc của máy bay Mỹ, cơ quan sơ tán vào rừng Thái Nguyên. Bố tôi lúc đó công tác đảm bảo giao thông chống chiến tranh phá hoại ở Khu 4 là nơi địch đánh phá cầu đường rất ác liệt. Bà vừa học vừa nuôi dạy hai chị em tôi trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn mọi bề.

Mẹ tôi là người phụ nữ thảo hiền. Bà là con dâu lớn của gia đình đông anh em. Từ 1967, Bà về làm việc ở Hải Phòng, ở với bà nội. Bà quán xuyến mọi việc của một đại gia đình, phụng dưỡng mẹ chồng, giúp đỡ các em chồng. Các cô, các chú ai cũng quý mến chị, có nhiều kỷ niệm tốt về chị. Bà đã nuôi các cháu Bình Minh, Tố Uyên (con chú Quang), Xuân Hoàng (con chú Huy), Xuân Khánh (con chú Đăng), Đình Tuân, Tiến Đạt (con cô Nga), để các cô chú có điều kiện đi học tập trung thi lấy bằng đại học trong lúc vô cùng khó khăn của thời kỳ chiến tranh - kinh tế rất gay go. Bà nội tôi rất yêu quý mẹ tôi. Sau khi mẹ tôi mất, lần nào nói về mẹ tôi bà cũng khóc, thương nhớ. Đến nay mẹ tôi đã qua đời 25 năm mà bà con phố xóm cũng như cơ quan cũ của bà vẫn còn ca ngợi.

Nhân dịp ngày giỗ lần thứ 25 của Người, tôi viết đôi dòng ngắn ngủi kể về mẹ. Chắc rằng không thể nêu được hết về đức hạnh của Bà, nhưng cũng là chút lòng thơm thảo của đứa con kính dâng Mẹ Hiền.

Nguyễn Thị Kim Chi

đăng 06:44 24-12-2008 bởi Hoang Nguyen Xuan   [ đã cập nhật 22:52 25-12-2008 ]

Món quà tặng mẹ chồng

Mẹ chồng tôi vốn là người rất khái tính, khó có ai tặng được bà vật gì. Năm mẹ tròn 80 tuổi, chúng tôi định tổ chức lễ mừng mẹ thượng thọ nhưng cũng bị mẹ gạt đi. Mẹ ngại bày đặt ra rồi các con cháu lại nhân dịp này mang đủ thứ quà cáp đến biếu...

Có lần, nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, Hội Phụ huynh học sinh của chị Sinh- con gái Mẹ - tới thăm nhà và tặng mẹ cô giáo một món quà... Sau khi khách về, mẹ tôi đem món quà đó gửi trả lại chị Sinh... Tất nhiên là chị nhất định không chịu nhận. Mẹ và chị tôi cứ đùn đẩy nhau món quà đó hoài... Cuối cùng, chị Sinh đành phải ấm ức chịu thua Mẹ...

Biết vậy nên chúng tôi thường tìm cách nào thật khéo để mẹ chịu nhận quà mỗi khi muốn biếu quà cho mẹ .

Lần ấy, vào dịp mồng 8 tháng 3- ngày Phụ Nữ Quốc tế. Sau khi đi làm về, tôi thưa với Mẹ: “... Hôm nay Cơ quan con có quà gửi biếu mẹ nhân ngày 8/3... những ai có mẹ già đều được Cơ quan gửi quà tặng...!”.

Nói xong, tôi đưa cho mẹ tôi một chiếc phong bì có đựng tiền, bên ngoài đề dòng chữ: “Kính tặng Mẹ đồng chí Kim Chi- nhân ngày Phụ nữ Quốc tế 8/3...”, trong lòng hồi hộp, lo lắng, chỉ sợ mẹ phát hiện ra tôi nói dối... (vì tôi vốn nói dối rất dở, mà mẹ lại cực kỳ tinh ý).

Mẹ tôi thoáng một chút ngạc nhiên vì bất ngờ, nhưng sau đó bà vui vẻ nhận ngay, không nghi ngờ gì cả, thậm chí còn có vẻ rất xúc động và dặn tôi nhớ chuyển lời mẹ cảm ơn tới anh em ở Cơ quan. Hôm sau bà hãnh diện khoe với mấy bà bạn “trầu cau” hàng xóm về “món quà” của Cơ quan con dâu...

Sau này, tôi kể lại chuyện đó với chồng tôi, anh cười và nói: “... Em “cao” thật đấy, dám “lừa” mẹ chồng một cú ngoạn mục đến thế là cùng!”



...số “sát”… mẹ

Khi tôi và Bảo quyết định cưới nhau, người mừng nhất có lẽ không phải là hai đứa mà lại là hai ông anh: anh Chúc - anh của Bảo và anh Hải- anh của tôi, nhất là anh Chúc. Cứ nhìn những bức ảnh cưới của chúng tôi thì rõ: lúc nào cũng thấy anh Chúc đứng cười, ngay cả lúc Bảo chắp tay vái gia tiên nhà vợ vẫn thấy anh đứng đàng sau em trai và... cười, vẻ như đắc ý lắm…

Bảo có hai mẹ là hai chị em ruột cùng lấy một chồng. Bảo là con mẹ Trẻ. Cả nhà thường gọi phân biệt: mẹ già là Bà Quang Trung, mẹ trẻ là Bà Cầu Tre. Khi chúng tôi lên Hà Nội để xin phép mẹ già và mời Mẹ về dự cưới, bà cười nói: “Con này nó can đảm thật! dám lấy người có hai mẹ!...”- ý bà muốn nói tôi không sợ rằng sau này mình sẽ có tới hai bà mẹ chồng sao?…

Cuộc sống cứ thế trôi qua. Cuối năm 1997 thì mẹ tôi mất- thọ 89 tuổi. Khoảng 6 tháng sau thì mẹ chồng tôi (mẹ trẻ) mất- thọ 80 tuổi.

Một lần, chúng tôi tới thăm mẹ già- khi đó đã ngoài 90 tuổi, bà bảo tôi “... con này số nó “sát” mẹ...”. Tôi bèn đáp lại: “Vâng, quả là số con “sát” mẹ thật nên mẹ nào cũng chỉ thọ đến… tám mươi hoặc chín mươi tuổi thôi…, yểu thọ quá mẹ nhỉ?…” Thế là bà cười xòa, cho qua…

Tôi thầm nghĩ : Kể ra mình cũng liều thật! Dám đối đáp với mẹ chồng những câu “ngạnh” như thế. Mẹ già thế mà tinh đời!



Vài nét về anh Huy hồi nhỏ


Mọi người trong gia đình Nguyễn Xuân đều biết anh Huy là Giáo sư- Tiến sỹ về ngành Công nghệ thông tin, có khả năng làm việc rất cao, ở bất cứ chỗ nào anh cũng có thể tranh thủ đọc được… Anh còn nổi tiếng về khả năng truyền thụ kiến thức và truyền cảm hứng học tập cho sinh viên. Đặc biệt, anh còn viết những truyện cho thiếu nhi và những mẩu chuyện vui rất hay. Nhiều truyện của anh đã được các nhà xuất bản đăng tải… Nhưng ít ai biết rằng hồi nhỏ anh là người hay bày ra lắm trò nghịch ngợm và nhiều “sáng kiến” ra sao. Vậy mà tôi- nàng dâu út , người mới trở thành thành viên của Gia đình Nguyễn Xuân được 13 năm- lại có duyên may được biết anh từ nhỏ nên cũng xin mạo muội “múa rìu qua mắt thợ”, kể ra đây vài trò trong hàng trăm trò tinh nghịch hồi nhỏ của anh…


Đệm Hơi…

Chả là anh Huy và anh Văn- ông anh thứ sáu của tôi- có thời gian học cùng một khoá ở trường cấp III Ngô Quyền, hai anh cùng học giỏi nên chơi với nhau khá thân. Thời gian đó, anh thường đến nhà chúng tôi “đo phản” ( hồi đó giường của nhà tôi là cái phản…). Anh Chương- ông anh thứ bảy của tôi- rất khoái ông anh mới này, “tặng” luôn anh Huy một “biệt danh” là Thế tử Hốt (tên một nhân vật trong truyện Đông Chu Liệt Quốc)- chắc là do bái phục ông anh thông minh, có tài kể chuyện hài hước và có nhiều “sáng kiến” trong việc bày ra những trò chơi cho bọn trẻ...

Còn tôi lại rất ấn tượng cách anh hay “sáng tác” ra những câu nói lái, như cách nói của cụ Trạng Quỳnh, chẳng hạn: gọi tỉnh Lạng Sơn là Một phần mười cân- Núi; ngày thứ hai là thứ… Violon Việt Nam (Nhị), bít- tất là… bít… một nửa (bít tất cả thì còn xỏ chân vào chỗ nào?) vv… làm chúng tôi rất khoái kiểu nói đó của anh.

Anh Văn tôi kể rằng hồi đó các anh thường tổ chức đi lao động (đào móng ở công trường xây dựng) kiếm tiền phụ giúp gia đình. Một lần, anh Huy đi làm muộn, để cả nhóm phải chờ mãi… cuối cùng thì anh cũng xuất hiện. Không để mọi người kịp phản ứng, anh nói ngay:

- Hôm nay trên đường đi làm tao bắt được cái Đệm hơi chúng mày ạ…

Mọi người ngạc nhiên nhao nhao lên hỏi:

- Cái Đệm hơi là cái gì vậy, trông nó thế nào? mày cho chúng tao xem với?...

Chờ cho mọi người im lặng, anh mới cười cười giải thích:

- Này nhé: Đệm hơi là Hợi đêm, Hợi là Lợn, Đêm là Tối. Lợn Tối là Tội lớn. Tao mắc tội lớn với chúng mày chứ còn sao nữa…?

Thế là cả bọn cười xoà, bèn tha thứ cho cái Tội Lớn đó của anh.


Thi cắn chuối

Các anh lớn thường bày nhiều trò để đố nhau, nhất là để “lừa” bọn trẻ con chúng tôi. Có những trò được lưu truyền đến tận bây giờ như trò nhấp nước bọt vào một ngón tay rồi làm cho nó ( nước bọt) nhảy từ ngón nọ sang ngón kia… Bọn trẻ chúng tôi tha hồ sờ ngón tay để kiểm tra: ngón tay vừa có nước bọt vẫn cứ là khô nguyên, còn nước bọt thì đã chuyển sang ngón tay kia rồi! Thật là phục sát đất.

Còn anh Huy lại đố chúng tôi một trò khác: Một lần, trong lúc cả nhà đang ăn chuối, anh đố bọn trẻ chúng tôi đứa nào cắn ba nhát hết được cả quả chuối thì sẽ được thưởng. Quá dễ, chúng tôi hăng hái làm theo ngay, nhưng không thể nào cắn ba nhát mà hết cả quả chuối được …

Không tin, các bạn có thể thực nghiệm thử bài toán “cắn chuối” này xem tôi nói đúng hay sai? Nếu ai làm được thì sẽ có thưởng… Nhưng hãy chú ý từ “cắn” đấy nhé!...


…Tránh ra kẻo bẹp em tôi …

Những năm sau hoà bình lập lại, việc có được một tấm vé đi xem xi- nê là chuyện rất khó khăn. Hơn nữa, chuyện được xem phim ở rạp là một điều quá xa xỉ đối với những người dân lao động. Để phục vụ được đông đảo bà con lao động ở khu Xi Măng- Hạ Lý, người ta thường chiếu phim ở bãi chiếu phim Thượng Lý mỗi tuần một lần. Mỗi lần có buổi chiếu phim là cả xóm kéo nhau chen chúc đi xem, đông vui như trẩy hội…

Các anh chị của Bảo cũng rất thích xem xi nê ở bãi Thượng lý. Lắm khi không mua được vé hoặc không có tiền mua vé xem phim, anh Huy cũng cứ dẫn em Bảo ra bãi chiếu phim để “tìm vận may”. Quan sát thấy nhân viên soát vé thường chỉ xé đôi chiếc vé của người vào bãi một cách rất cẩu thả rồi vứt ngay xuống đất, gió thổi làm những mảnh vé bay lung tung…anh bỗng nảy ra một sáng kiến… Anh nhặt ngay một mảnh vé bị xé ít nhất, nắm chặt phần vé rách trong lòng bàn tay, chìa phần vé lành ra ngoài rồi cõng cậu em Bảo chen bừa vào đám đông người trước cổng soát vé…

Thực ra cái việc anh cõng cậu em út - bấy giờ đã 8, 9 tuổi- cũng nằm trong sự tính toán “chiến lược” của anh rồi: vừa cõng cậu em chen chúc trong đám đông, anh vừa hô: “mọi người tránh ra kẻo bẹp em tôi bây giờ…”, một tay anh vòng ra đằng sau đỡ cậu em chân dài gần quét đất…để chen vào cửa soát vé, còn tay kia thì cầm thật chặt lấy tấm “vé”, chỉ để lộ ra một phần của tấm vé còn lành lặn. Thế là trong lúc nhốn nháo, lại bị bất ngờ vì lời khuyến cáo kinh hoàng …“bẹp em tôi”, người soát vé luống cuống chỉ còn biết xé phần thò ra của tấm vé rách. Thoát! Thế là cả hai anh em được vào xem phim bãi mà không phải mất tiền! 

Nguyễn Thị Vân Khanh (Anh Quang tôi)

đăng 06:37 24-12-2008 bởi Hoang Nguyen Xuan   [ đã cập nhật 07:22 23-12-2008 ]

ANH QUANG TÔI
Hồi ký
- Chúng mày, Oanh, Khanh quạt cho anh với, nóng quá!

Nhìn ông anh nằm phủ phục, mẹ thì ngồi trên lưng, quay ngược lại với cái roi trên tay quất liên tiếp vào mông anh, chúng tôi không nhịn được, phá lên cười, làm mẹ cũng phì cười, thôi không đánh anh nữa.

Đó là vào khoảng năm 1955 – 1956, anh mới 15 tuổi, cai quản 7 đứa em lít nhít từ 7 đến 14 tuổi, đứa nọ cách đứa kia có 1 tuổi.

Gia đình tôi lúc đó ở căn nhà 2 tầng số 50 đường Hà Nội – Hải Phòng. Một mình anh Quang tôi trông nom, cai quản 7 đứa chúng tôi thay hai mẹ. Lúc đó, mẹ Già cứ thường xuyên đi Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai để mua sừng hươu, xương hổ về nấu cao bán. Còn mẹ trẻ thì ở quê Nam Định chưa ra kịp. Anh nấu ăn rất ngon, lại có khiếu hài hước, nên căn nhà luôn đầy ắp tiếng cười. Anh bày ra đủ trò: Chơi tú lơ khơ bôi râu, chơi tam cúc… ai thua thì phải làm mọi việc theo ý người được. Anh bắt chúng tôi đi giật lùi, dập mông vào tường, rồi ra chắp tay trước con ngan “Lạy cụ Ngan ạ!”…

Rồi anh đi học sư phạm và trở thành giáo viên cấp I. Còn tôi học lên cấp III và vào Đại học.

…Giữa tôi và anh có sự gắn bó đặc biệt từ hồi còn nhỏ. Đó là năm 1949, lúc tôi mới lên 6 tuổi, còn anh lên 9. Gia đình tản cư ra vùng tự do, lúc đó bố tôi là Phó trưởng Ty Bưu điện liên tỉnh Hải – Kiến. Lúc đi tản cư, gia đình quá đông đúc, lại kết hợp với việc di chuyển cơ quan nên bố tôi giao cho tôi và anh đi theo hai nhân viên công vụ của cơ quan bố. Mải chạy theo họ, hai anh em bị lạc gia đình từ đó.

Chúng tôi cứ bước đi trẹo trọ trên những luống cày mới vỡ. Lúc đó tôi gầy gò bé như một con mèo hen nhưng vẫn phải đeo một tay nải đựng quần áo, cứ thế vừa đi vừa chạy, ngã xiêu ngã vẹo. Thỉnh thoảng qua những chỗ đất còn mới có vài cành rào tre cắm vội vàng, cài một mảnh bìa viết mấy chữ nguệch ngoạc “cẩn thận có mìn”, anh lại nắm chặt tay tôi dắt đi vòng qua. Có lúc anh lại còn cõng tôi. Đi mãi, đi mãi… đến gần Vĩnh Bảo mới có một quán ăn. Hai nhân viên công vụ bảo anh em tôi ngồi trông đồ. Tôi buồn ngủ quá, ngồi ngủ gật. Một người công vụ đi ra thấy vậy tát tôi liền mấy cái. Đau quá, tôi khóc ầm lên. Anh thương tôi lăm, dỗ mãi tôi mới nín.

Lúc tìm được về đến nhà dì Thạnh gặp lại gia đình, nhìn mọi người ai cũng đội khăn tang trắng xoá, chúng tôi mới biết là bố đã mất ở làng Khuốc, Thái Bình. Thế là lúc bố mất, hai anh em tôi đã không có mặt.

Thời gian tôi học Đại học (1962 – 1965), anh xung phong lên Tây Bắc dạy học: Hai mươi năm Tây Bắc, anh và tôi rất hay viết thư cho nhau. Có lần anh bảo: Khanh ạ, anh nghiệm ra là “Bổ củi ấm hơn chăn bông”. Rồi anh kể cho tôi về cô học trò ở Hải Dương, nơi anh dạy học trước đây. Lúc đó cô mới 16 tuổi và đặc biệt là có hàm răng nhỏ, đều tăm tắp, trắng muốt, cười rất tươi. Khi anh về thăm lại, cô đã 20 tuổi và anh đã đem lòng yêu mến. Anh quyết cưới cô và đem theo lên Tây Bắc. Người đó chính là chị Phương Nga, vợ anh bây giờ, người đã được anh dìu dắt để trở thành một cô giáo sau này.

Anh Quang tôi là một người đặc biệt thông minh, tài hoa, lại cần mẫn ham học. Anh có biệt tài thổi sáo hay, chắc nhiều người biết điều này vì đó là truyền thống của con trai trong gia đình tôi: Ai cũng biết thổi sáo trúc và thổi rất hay. Nhưng ít người biết anh vẽ rất giỏi, làm thơ cũng hay và đặc biệt có tài điêu khắc. Anh bẻ đôi lưỡi dao cạo, cầm viên phấn viết bảng ngược đầu to lên trên rồi tạc thành hình ông Lênin rất khéo.

Anh ít làm thơ nhưng cũng đã có những bài thơ thật hay. Đây là một bài thơ thật trong trẻo và dí dỏm anh viết về tình cảm đằm thắm của một cô giáo trẻ người dân tộc Thái với anh lính nuôi quân giữa phong cảnh tươi đẹp, thanh bình của núi rừng Tây Bắc:


Cô giáo và anh nuôi

Mỗi sáng mặt trời còn ngủ
Núi rừng sương phủ mờ mờ
Chỉ có anh nuôi đã thức
Chuẩn bị đôi giành xuống chợ

Trưa về nắng vàng đã toả
Màn sương vén lộ núi rừng
Qua bản anh đi chậm dần
Lắng nghe giọng cô giáo trẻ
Giảng bài giọng nói thanh thanh…

Cô giáo người dân tộc Thái
Chưa tròn mười tám tuổi đời
Mỗi sáng khi anh nuôi tới
Cắn môi cố dấu nụ cười…

Cô giáo nhiều lần lúng túng
Đàn em nhoẻn miệng ra cười
Đập bàn, cô nhìn bầy trẻ:
- Các em… im lặng… học bài!

Anh nuôi vẫn ngày đi chợ
Cô giáo vẫn lo giảng bài
Đàn em vẫn chăm chỉ học
Cả ba như ánh ban mai...

Sáng nay anh nuôi về sớm
Vẫn hai giành nặng trên vai
Qua trường: - Ồ sao thế nhỉ ?

À... Mai mới đến Thứ Hai...

    Bài thơ kết thúc thật bất ngờ và tràn ngập tinh thần lạc quan. Trong gia đình, ít người biết đến bài thơ này của anh.

Anh còn rất ham mê thể thao như bóng đá, bóng rổ, bóng bàn...Anh đã truyền cho tôi lòng ham mê đó nên khi về dạy ở Đại học Nông nghiệp, tôi cũng tham gia đội bóng rổ của nữ công đoàn trường,

Cậu Bảo vẫn nhớ mấy vần thơ tôi viết về anh hồi đó:

Ra sân chơi bóng rổ
Nhìn anh chơi một mình
Mái tóc vàng hoe nắng
Phất bay trong gió lành

Mọi người trong nhà chỉ biết anh Vinh là giáo sư tiến sỹ ở Pháp và Mỹ, em Huy là Tiến sỹ giáo sư ở Nga, anh Chúc là kỹ sư trưởng giao thông, nhưng chắc it ai biết anh Quang tôi là người cực kỳ thông minh.

Thời gian ở Tây Bắc, anh đã tự học tiếng Trung, không hề có thày dạy, chỉ dựa vào sách. Hồi đó không có băng đĩa như bây giờ. Đặc biệt là tự học mà anh vẫn phát âm được và còn làm phiên dịch cho nhiều chuyên gia cầu đường Trung Quốc sang giúp Việt Nam ở Sơn La, Lai Châu lúc đó. Khi anh học được hơn hai ngàn từ thì viết thư bảo tôi là anh đã đọc và dịch được tiểu thuyết của Lỗ Tấn, sau đó anh còn dịch được thêm nhiều tác phẩm văn học Trung Quốc nữa.

Anh về Hà Nội học Đại học lúc anh đã 30 tuổi nhưng anh học rất giỏi. Anh kể với tôi nhiều lần anh thay các giảng viên phụ đạo, giảng bài hay tổng kết cho sinh viên cùng lớp nên đến lúc thi hết môn, thi vấn đáp, thày giáo chỉ ngồi truyện trò, đàm đạo với anh mà không hỏi han gì thêm rồi ghi cho anh điểm 5- điểm số cao nhất lúc đó. Khi tốt nghiệp ra trường, anh đủ tiêu chuẩn đi nghiên cứu sinh nước ngoài, nhưng rất tiếc là đã quá tuổi học Thạc sỹ ở nước ngoài. Nhà trường giữ anh lại giảng dạy nhưng anh không ở. Sau khi ra trường, anh lại về công tác ở Hải phòng, Quảng Ninh và tiến bộ rất nhanh. Trước khi mất, anh đã là trưởng phòng kỹ thuật, chuẩn bị được đề bạt lên phó Ty Giao thông Quảng Ninh. Tôi tin rằng nếu có điều kiện, anh cũng sẽ thành đạt, có học vị xứng đáng là con trai của dòng họ Nguyễn Xuân vì anh thực sự thông minh, ham học, có chí vượt khó, lại tài hoa và sống rất hiền hậu.

Thế rồi anh ra đi đột ngột ở tuổi 54 vì một tai nạn giao thông, để lại tiếc thương vô hạn cho mọi người. Anh là kỹ sư giao thông lại bị chết trong tai nạn giao thông ! Thật là « sinh ư nghệ, tử ư nghệ ». Trước đó 10 tháng, anh bị bệnh hiểm nghèo : tràn dịch màng phổi. Ai cũng nghĩ anh khó qua khỏi. Mọi người đến thăm, anh đã nói chuyện vui vẻ, hài hước. Và anh đã qua khỏi. Thế mà sau chưa đầy một năm anh vẫn ra đi...

Anh Quang ơi, trước lúc mẹ sinh anh, mẹ kể : Trời nổi dông sấm chớp, sau khi sinh thì trời quang mây tạnh. Ai cũng bảo sau này anh sẽ làm nên việc lớn và trường thọ vì anh có đôi tai to như tai Phật, dái tai tròn và dầy dặn như đồng hào (tiền đúc bằng kim loại lúc đó). Chúng em vẫn gọi đùa anh là ‘Quang mỏ sỏ đồng hào ».

Bây giờ anh đã yên nghỉ ở Nghĩa trang Phi Liệt- Thuỷ Nguyên, Hải Phòng, bên cạnh mộ Bố, Mẹ, anh Đăng...

Anh mãi là niềm tự hào của chúng em, của chị Phương Nga và các con : Phan, Minh, Tố Uyên và các cháu của anh.

Em viết những dòng này để tưởng niệm anh và để anh em, con cháu trong dòng họ biết thêm một số điều về anh mà có thể họ chưa biết...

Hải Phòng, mùa hoa Phượng Sinh nhật anh 31/5 năm 2008 

Nguyễn Thị Vân Khanh: Mẹ tôi làm thơ

đăng 06:33 24-12-2008 bởi Hoang Nguyen Xuan   [ đã cập nhật 07:22 23-12-2008 ]

MẸ TÔI LÀM THƠ

Hồi ký

Nhìn dáng vẻ mẹ tôi: mái tóc vấn trần, răng đen hạt na, nhai trầu bỏm bẻm… không ai nghĩ mẹ tôi biết làm thơ. Thế mà mẹ biết làm thơ từ hồi còn rất trẻ.

Thơ mẹ làm rải rác… suốt cuộc đời, lúc nào thích thì mẹ làm. Năm ấy, mẹ đã vào tuổi tám mươi, tuy vẫn đi lại nhanh nhẹn bình thường nhưng cũng đã chớm mắc phải bạo bệnh. Tôi và em trai Chí Bảo muốn mẹ vui, bàn nhau sưu tầm, tập hợp một số bài thơ của mẹ, in thành một tập thơ nhỏ, lấy tên là “TÂM SỰ VỚI GIÓ” để mẹ có dịp xem lại những bài thơ mẹ đã làm; cũng là để các con cháu xa gần biết đôi chút về thơ của mẹ. Thời gian gấp gáp, nhiều bài mẹ không ghi chép lại, nhưng hai chị em vẫn quyết tâm miệt mài làm để hoàn thành công việc. Tập thơ in xong, mẹ rất vui và đã tự tay đề tặng một số con cháu, bạn bè, những người thân tình với mẹ… Nhận món quà đặc biệt này, ai cũng ngạc nhiên và thật xúc động.

Mỗi lần xem lại những bài thơ của mẹ, tôi thấy thơ mẹ thật là hiền hậu, dí dỏm; tuy mộc mạc mà chứa đựng rất nhiều tâm sự, nhân hậu như con người mẹ. Có khi thật giản dị như chân lý cuộc sồng, có khi đọc thật kỹ mới hiểu được ý thật. Ẩn trong ý “con tằm nhả tơ” mà càng suy ngẫm càng thấy thật thâm thuý, tế nhị. Tôi càng thấu hiểu tấm lòng của mẹ, nỗi kỳ vọng… và cuối cùng là lòng tin sâu sắc ở người con trai duy nhất của mẹ sẽ làm được điều gì mà mẹ hằng mong mỏi.

Sau khi lấy bố, mẹ sinh liên tiếp ba con gái (tôi là thứ hai). Lúc đó, tâm lý mẹ (và cả bố nữa) đều rất mong sinh được một con trai. Cuối cùng mẹ đã toại nguyện. Nhưng khi cậu út tròn một tuổi thì bố tôi mất. Một mình mẹ tần tảo nuôi dạy các con. Chúng tôi sớm nhận ra điều đó nên mấy chị em đều thương mẹ, chăm chỉ học hành, phụ giúp công việc với mẹ. Cậu út lớn lên trong tình yêu thương của mẹ và các chị, trở thành người con trai có tư chất thông minh và tấm lòng nhân hậu. Cậu là một kỹ sư cơ khí đa tài nhưng số phận cũng thật là long đong. Cậu phục vụ trong Quân đội rất được tín nhiệm, giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Ban kỹ thuật trung đoàn, nhưng sau đó biết mình không thể phát triển hơn được nữa trong Quân đội vì ngoài việc giỏi về chuyên môn, Quân đội còn đòi hỏi những điều kiện về chính trị mà cậu không thể đáp ứng được, nên cậu đã xin phục viên với quân hàm đại uý, không một đồng lương hưu. Điều này không phải ai trong dòng họ cũng biết. Cậu vật lộn, lo toan cuộc sống, lại “gà trống nuôi con” nên rất vất vả. Năm 1991, để có việc làm, cậu phải chấp nhận vào Sài Gòn làm đại diện cho một Công ty Vận Tải Biển ở Hải Phòng, để lại toàn bộ tiền lương hàng tháng cho mẹ già vò võ nhớ mong. Mẹ xót xa:

Lương con , con chẳng có hay

Dành riêng cho mẹ đủ đầy ấm no…


Sở dĩ tôi phải nói dài về cậu em trai để mọi người hiểu được “Tâm sự với gió” của mẹ… Cậu út ra đi, vật lộn với cuộc sống, quyết làm được một điều gì để đáp lại công lao to lớn của mẹ đã sinh ra, dưỡng dục và hy vọng biết bao nhiêu về mình. Mẹ nén lòng tiễn con đi xa, rồi đêm đêm, trong nỗi nhớ mong da diết, mẹ tâm sự với làn gió mát:

Canh khuya gió lọt song đào

Giấc mai chợt tỉnh, gió vào chi đây ?

Gió ơi, có biết nỗi này

Cùng ta tâm sự tháng ngày thoi đưa…

Ruột tằm chín khúc vò tơ

Nâng niu hái lá cho tơ nhả vàng

Bõ công chăm bón sửa sang

Hôm nay tằm chín…không vàng, không tơ…”

Thật không thể thêm hoặc thay thế một từ nào trong bài thơ mà ta đã hiểu những trăn trở, thậm chí cả nỗi quặn đau của mẹ, ước mơ của mẹ, và cả nỗi thất vọng của mẹ khi mà con trai chưa làm được điều mẹ mong mỏi.

Nhưng cũng chính mẹ lại đưa ra lời phân trần thay cho con trai với tất cả sự hiểu biết về tâm sự của con và cả lòng tin mãnh liệt rằng con sẽ làm được điều gì đó… Con nào có muốn thế đâu? Ơn mẹ nghĩa nặng tình sâu con sẽ trả, mà là trả Vàng, con sẽ dệt nên tấm áo từ “Tơ song óng, lụa mịn màng” cho mẹ. Xin mẹ hãy gắng chờ chẳng lâu. Chữ Người ở đây sao mà hay, sao mà súc tích. Nỗi băn khoăn của mẹ, gió đã thấu hiểu. Gió gọi mẹ bằng Người. Lời của gió cũng là lời của người con trai nói với mẹ:

Rì rào chậm rãi gió thưa

Người ơi, xin hãy gắng chờ chẳng lâu

Tằm kia có muốn thế đâu?

Ơn Người nghĩa nặng tình sâu trả Vàng

Tơ song óng, lụa mịn màng

Cho Người ươm dệt, cho vàng áo ta”…

Mẹ vừa là người chăn tằm, vừa là người tâm sự với gió.

Con trai vừa là tấm lụa dệt nên tấm áo cho mẹ, vừa là làn gió nhẹ âm thầm và thiết tha, nhẹ nhàng tâm sự cùng mẹ.

Mẹ mơ mộng, “cổ xưa” như thế mà vẫn là nhà thơ của thời hiện đại. Mẹ ít khi ra khỏi nhà, ít đi đây đi đó, ngay cả đến quê hương Nam Định mà cũng đã hơn bốn chục năm mẹ chưa về được, mà mẹ hiểu cả những chuyện “móc ngoặc” hối lộ trong xã hội hiện nay…

Con gái tôi, Nội Uyên, lúc đó là kỹ sư tin học mới ra trường, cháu mới hai mốt tuổi và được phân về làm ở Phòng tin học của Hải quan Hải Phòng. Có lúc cháu còn xuống công tác ở Phòng Giám quản. Cháu yêu và sắp lấy một anh thuỷ thủ trưởng đi tầu biển, cũng thường cập nhiều bến nước ngoài và tất nhiên cũng có buôn bán đôi chút. Bà ngoại đã 76 tuổi, chỉ ngồi ở nhà nhưng đã nhận thấy những mâu thuẫn nghề nghiệp của hai cháu và muốn nhắc nhở hai cháu trong công việc sao cho giữ được tấm lòng trong sạch.

Nhân dịp cưới hai cháu, bà làm một bài thơ thật dí dỏm để tặng. Ngay câu đầu của bài thơ, bà đã nói rõ:

Trung là Thuỷ thủ, Uyên là Hải quan

Anh tài thì em cũng tài

Đôi ta loan phượng sánh vai tuyệt vời

Anh đi non nước biển khơi

Đứng bến em đợi, mắt ngời sáng trong


... Rồi tầu anh về cảng...

Em ra lục soát hàng không giấy tờ

Gãi tai... anh đứng sững sờ

Thế rồi anh lại ập ờ xin em

Loanh quanh, năn nỉ, lộn chen

Có chút quà mọn… xin em vui lòng…”

thật đúng cảnh truyện trò giữa nhân viên Hải quan và khách hàng là thuỷ thủ. Nhưng ở đây họ còn là hai vợ chồng mà vợ lại là Hải quan. Cái cách cô vợ nhắt nhỉ thật là buồn cười và thực tế

Cười xoà, em hỏi “Còn không?

Thôi được , anh cứ yên tâm, ngại gì?

Đôi ta đồng bọn cố tri

Cùng chung loan phượng, cùng thi, cùng làm

Thôi! Thôi! Không phải luận bàn

Cứ thế! Cứ thế! Mà “ấy”… Chẳng làm sao đâu!...

Chắc chẳng ai nghĩ đó là thơ của một bà già đã… 76 tuổi vào năm đó (1994).


Tôi rất cảm ơn mẹ về bài thơ “Xem ảnh” mà mẹ viết tặng tôi. Bức ảnh chụp hai mẹ con đều đẹp; năm đó tôi 26 tuổi và mẹ mới 50 tuổi. Con gái lớn của tôi là cháu Thuỳ Dương lúc đó một tuổi. Tôi không ngờ mẹ hiểu lòng mình đến thế. Mẹ tưởng tượng: hai mẹ con đang tâm sự rì rầm

Mẹ khen con mẹ trăng rằm thua trong

Miệng cười hàm tiếu hồng nhung…

Xem người trang trọng, mắt huyền lung linh

Trong mắt mẹ lúc ấy, sao mà tôi xinh đẹp,quyến rũ và đáng yêu đến thế! Còn tôi, tôi nghĩ về mẹ thế nào mà mẹ lại hiểu thấu đáo đến thế

Con cười khen mẹ thông minh

Lúc nào mẹ cũng nghĩa tình chẳng nghiêng

Sáng trong một tấm lòng thiền…

Và mẹ kết luận đúng như mong ước của tôi:

Mong sao con giống mẹ hiền của con.


Ai là người Hải Phòng yêu thơ hẳn đều biết nữ sĩ Hoài Thanh, chị gái tôi, một nhà thơ xuất thân là thợ điện, lại rất thích gần gũi thiên nhiên, thích trồng trọt, chăn nuôi. Chị đã cùng gia đình con gái vào Đồng Nai, chọn một vùng nương rẫy xa xôi, cùng con và các cháu ngoại lao động cật lực tạo dựng một cuộc sống mới ở tuổi 60.

Hình ảnh nữ sĩ được mẹ khắc hoạ thật là ấn tượng

Văn sĩ thôi đành bỏ mặc ai

Hăng say cuốc đất, bận trồng khoai

Sớm chiều bầu bạn tình ngô sắn

Vui thú điền viên đã mấy ai?

Thế mà chị vẫn cho ra đời những vần thơ rung động lòng người và cả một tập thơ được xuất bản ở nước ngoài.

Mẹ là người làm ơn nhưng không nghĩ người đền ơn. Giúp được con cháu hay người ngoài điều gì mẹ đều hết lòng. Nhưng ai làm điều gì tốt cho mẹ thì mẹ không chút nào quên ơn. Khi nhận được thuốc của chị Yến từ Mỹ gửi về, mẹ đã làm thơ tặng

Nghe tin dì ốm, tình thương xót

Cháu thảo lòng, cho thuốc quà ngay

Tình sâu mong trả nghĩa đầy

Giờ chưa trả được, hẹn ngày mai sau…

Bác sĩ Vũ Huy Long (bạn học thời trẻ với anh Xuân Vinh) đến điều trị cho mẹ, mẹ cũng làm bài thơ tặng:

Cảm ơn bác sĩ nhiệt tình

Cảm thông cứu chữa cho mình hết đau

Ân tình ghi nhớ dài lâu

Chút chi chẳng có, mấy câu tạ lòng

Thật là cách ứng xử rất văn hoá. Bác sĩ Vũ Huy Long cũng hay làm thơ và đương nhiên là người rất thích thơ.

Mẹ đã âm thầm và kiên cường chống lại với căn bệnh ung thư hiểm nghèo mà vẫn giữ được tinh thần lạc quan

Đang khi đau bụng bất ngờ

Đọc thơ mê mải, tình cờ hết đau…

Đó, có ai lại chữa bệnh bằng thơ như mẹ!

Mẹ còn nhiều đức tính tốt như với bản thân thì rất cần kiệm mà với con cháu hay mọi người rất rộng rãi, độ lượng… Nhưng đây là nói về thơ của mẹ. Mẹ rất ham hiểu biết và động viên con cháu học hành cho rạng danh tiên tổ.

Mẹ đặc biệt thương cháu Thuỳ Dương phải xa nhà du học bên Mỹ. Khi cháu về chơi thăm bà và chào bà để trở lại trường, bà cũng dặn dò ân cần

Cháu ơi, nhớ nhé đừng sai

Đẹp lòng cha mẹ, thêm vui lòng bà

Một mai về đất nước nhà

Vinh quy bái tổ, đuốc hoa rạng ngày...

Chén đưa nhớ buổi hôm nay

Chén mừng mong hẹn ngày này năm sau

Và chưa đầy một năm sau, cháu đã Vinh quy bái tổ  nhưng thật tiếc, lúc đó bà đã về với tổ tiên.

Mẹ rất tự hào khi có con cháu học hành đỗ đạt. Mẹ có bài thơ tặng anh Nguyễn Xuân Vinh, cháu ruột và cũng như con mẹ, là Viện sĩ Hàn lâm Viện Khoa học Không gian Quốc tế:

Nghe tin cháu được vinh danh

Ở Hoa Thịnh Đốn , dì mừng xiết bao

Cháu là Tiến sĩ – Giáo sư

Rạng danh tiên tổ, vẫn ưa kiệm cần

Và mẹ lại tự nhủ mình:

Tự hào mẹ bậc vĩ nhân

Sống sao xứng để cháu con rạng ngời.


Có một bài thơ của mẹ mà khi tôi đã đến tuổi làm bà và đã sang Mỹ thăm con, tôi mới hiểu tâm tư của mẹ. Mẹ đã nói hộ lòng tôi lúc đó. Mặc dầu Thuỳ Dương, con gái tôi thật là hiếu thảo, quí mẹ. Cháu đã đón tôi sang Hoa Kỳ chơi, đưa đi du lịch nhiều nơi, thưởng thức nhiều của ngon vật lạ, nhưng nếp sống ở nước ngoài đôi lúc không quen, làm trái ý con làm con không được vui, tôi bỗng nhớ đoạn thơ của mẹ nói về tâm tư sâu lắng khi mẹ ở với con trai và con dâu:

Dâu hiền con hiếu ở cùng

Mà sao tôi thấy lạ lùng cô đơn

Tôi như một đứa trẻ con

Luôn luôn lo sợ lòng son, lỗi lầm…

Mình là mẹ nhưng cũng là thế hệ trước, làm sao theo kịp những suy nghĩ và hành động của bọn trẻ bây giờ… Mỗi lần làm phật ý con, tôi lại thoáng ân hận , lo lắng. Thú thật,lúc đó tôi chỉ muốn về nước. Có phải là như một đứa trẻ con luôn lo sợ lòng son lỗi lầm không? Sao mà mẹ suy nghĩ sâu sắc đến vậy!


Ở với mẹ bao năm, được mẹ ủ ấp, nuôi dưỡng, dạy dỗ… mà chỉ đến khi đọc cả tập thơ của mẹ , tôi mới thấu hiểu lòng mẹ và cả những sở thích vui buồn suy tư của mẹ.


Hình ảnh của mẹ giờ đây đã ghi đậm trong tim chúng con


…“Mẹ chỉ thích ăn trầu

Ăn rau và tôm cá

Ngồi nhà xem Ti vi

Làm thơ, cười hỉ hả”…

Con gái Vân Khanh


Tám mươi nhưng tính vẫn vui

Hồn thơ như ngọc, sáng ngời nét hoa

Nho, Y, Trí, Đức ông cha

Thơ là bạn suốt đường xa dặm dài

Gian nan bền chí không rời

Dì là thơ của cuộc đời cháu con”…

Cháu gái Bích Thuỷ


Mẹ còn sống mãi trong lòng chúng con , bởi vì

Con là buồm nhỏ mong manh

Mẹ là ngọn gió trong lành biển khơi

Con là quả ngọt hoa tươi

Mẹ là ánh nắng mặt trời ban mai

Con - hạt cát, Mẹ - vỏ trai

Tháng năm ấp ủ sáng ngời ngọc trong

Con là mây trắng bềnh bồng

Mẹ là xanh thẳm mênh mông bầu trời...

Con trai Chí Bảo

Và đây là những câu thơ kết trong bài thơ Khóc Mẹ của cậu Thịnh, bạn cậu Bảo:

Bây giờ mẹ đã ngủ say

Thiên thu nghìn nỗi đắng cay… hết rồi!

Còn con, còn cháu trên đời

Còn vần thơ với những lời mẹ ru…

Cao Văn Thịnh, bạn Bảo


Hồn thơ của mẹ bắt nguồn từ gen của ông ngoại, vẫn qua mẹ mà truyền cho con cháu, sống mãi với thời gian, mặc dù mẹ đã ra đi hơn mười năm rồi.

Tôi viết những dòng này để tưởng nhớ mẹ với lòng biết ơn sâu sắc và mãi mãi tự hào về thơ của mẹ, và để những ai chưa đọc thơ của mẹ biết đôi chút về tâm hồn thơ của mẹ.

Hải Phòng, tháng 5/2008



Nguyễn Thị Sinh

đăng 06:26 24-12-2008 bởi Hoang Nguyen Xuan   [ đã cập nhật 06:32 23-12-2008 ]

Gửi con gái nhân ngày sinh
Tặng con gái Minh Hằng

Hôm nay sinh nhật con
Mẹ chẳng có quà gửi tặng
Từ phương Nam xa thẳm
Mẹ gửi tới con ngàn vạn cái hôn

Con đã lớn khôn
Sao mẹ vẫn thấy con bé bỏng
Như thửơ nào
Chập chững tập đi
Bi bô học nói

Ước gì
Mẹ là làn gió mới
Ru giấc ngủ cho con
Ước gì
Mẹ là vầng trăng non
Toả ánh vàng
Hôn mái tóc con – Mái tóc bao năm mẹ đã vuốt ve, chải gội
Nhớ thương con gái
Mẹ mong con mãi mãi
Hạnh phúc vẹn toàn đẹp tựa hoa xuân.

23/12/1997

Con đi chợ tết
Kính tặng mẹ

Hôm nay con đi chợ tết
Thấy cau, trầu vỏ tươi ngon
Muốn mua làm quà biếu mẹ
Nhưng.........
Mẹ yêu đâu còn!
Con đứng lặng câm giữa chợ
Giữa ồn ào Kẻ mua người bán
Nước mắt ngược vào trong.

28 Tết Kỉ Mão (1999)


Nói với anh

Lá Bàng đã đỏ lâu rồi
Mà sao lá rụng đất trời vẫn đau!
Ai ngồi hoá đá đêm thâu
Để cho thương nhớ khắc vào tháng năm
Niềm đau gửi khói hương trầm
Quyện vào đất
Quyện vào tâm
Quyện vào........
Trời cao thế! Hỡi trời cao!
Lời đau khó nén, lệ trào khó ngăn
Người đi về cõi xa xăm
Để ai thức với gối chăn lạnh lùng
Suối vàng Người có biết không?
8 Tết Bính Tuất( 2006)

Thăm mộ Anh chiều 30 Tết
Thân yêu – tặng Anh

Đến thăm anh chiều 30 tết
Nắng vẵn vàng và hoa vẵn tươi
Chỉ riêng em buồn đau héo úa
Bởi em mất anh rồi, anh thân yêu ơi!

Cỗ ba mươi em mời anh về ăn
Cùng mẹ cha, Tổ tiên nội ngoại
Bánh chưng xanh lạt mềm vừa gói
Thịt mỡ, dưa hành đủ cả anh ơi!

Giao thừa đêm nay em thức cùng ai
Để cùng ai đón mừng xuân mới
Để cùng ai thẹn thùng bối rối
Như tết đầu ta trao cho nhau

Anh mừng tuổi em, ta mừng tuổi nhau
Thêm một mùa xuân, thêm niềm hạnh phúc
Nhưng tất cả chỉ còn là ký ức
Ký ức ngọt ngào càng buốt nhức trái tim

Thắp thêm hương cây cũng đứng lặng im
Tạm biệt anh, tạm biệt hàng bia khói trầm quặn thắt
Quay gót ra về chiều ba mươi tết
Vội vàng làm cỗ đón anh

30 Tết Đinh Hợi (2007)

1-10 of 12